Friday, February 23, 2018

Mùa Xuân Thần Thoại - Nguyễn Thị Thêm


Tôi bước xuống phi trường Narita mà tưởng mình còn mơ ngủ.
Kéo chiếc va li nhỏ tôi cố chạy theo cho kịp mẹ nuôi. Mẹ dừng lại nhìn tôi mỉm cười từ ái.
Thoáng chốc mẹ đã quên mình là lính. Còn tôi chân có vấn đề và là một đứa bé mồ côi lần đầu tiên ra khỏi Việt Nam. Mẹ đưa tay định kéo hành lý dùm tôi. Nhưng tôi giữ lại và cương quyết tự làm cho mình. Bề nào tôi cũng là một thanh niên ở độ tuổi khỏe mạnh nhất.

Mẹ đi sát bên tôi. Hai mẹ con trình giấy tờ ở hải quan,  xuống nhận hành lý. Qua khu vực kiểm soát và đẩy xe ra ngoài. Đây là lần đầu tiên tôi được đi máy bay và thật vô cùng tuyệt vời tôi được đến nước Nhật. Một đất nước mà tôi chỉ biết qua sách vở và trong những giấc mơ.

Tôi không biết làm sao để diễn tả tâm trạng tôi lúc này. Mọi thứ vượt ngoài tầm hiểu biết và tưởng tượng của tôi. Tôi nhắm mắt lại và thầm thì với chính mình:
-Đây là nước Nhật. Mình đang ở nước Nhật.
Tôi không thể hình dung được đi máy nay là như thế này. Những sự phục vụ trên phi cơ, những tiện nghi, thức ăn nó là như vậy.Tôi không thể nghĩ mình đã đặt chân đến nước Nhật với những con người và phương tiện tân tiến nhất nhì thế giới. Ơn trên đã mở cho tôi một cánh cửa thiên đàng . Tôi bước vào đó dọ dẫm ngỡ ngàng với cái chân tàn tật và một tâm hồn đầy sẹo của quá khứ.

Mẹ không để tôi đẩy hành lý mà kêu tôi đi theo. Một người trung niên đã đợi sẳn bên ngoài. Mẹ giới thiệu đây là bạn cùng đơn vị của mẹ. Tôi run run bắt tay sau lời chúc mừng của bác ấy. Bác đẩy xe và mẹ bấm thang máy để đi lên. Bãi đậu xe ở tầng lầu. Hai người nói chuyện với nhau bằng tiếng Mỹ. Tôi không thể hiểu họ nói những gì, chỉ biết họ rất thân tình, vui mừng gặp lại nhau.

Để túi xách nhỏ vào xe. Tôi ngồi vào băng sau và thấy mình như say sóng. Mọi việc diễn tiến như một chuyện cổ tích mà tôi giống như cô bé Lọ Lem được hoàng tử chọn để kết hôn.
......

Tôi là một đứa bé mồ côi từ lúc mới sinh ra đời. Không phải cha mẹ tôi chết mà họ đã vứt tôi trước cửa nhà một vị hảo tâm. Tôi chỉ nghe mẹ nuôi tôi nói như vậy. Người mẹ nuôi tôi không phải là người phụ nữ da trắng đang ngồi phía trước xe. Mà là một người phụ nữ VN đã bị mất con trong một lần sinh khó. Người chồng phản bội đã bỏ nhà đi theo một người đàn bà khác.

Đau khổ cùng cực vừa mất con lại mất chồng. Mẹ nuôi tôi gục ngã tưởng không thể vực dậy được. Bà trở nên như người loạn trí, lúc nào cũng đi tìm con. Bà nghĩ con mình còn sống và đang bị thất lạc ở một nơi nào đó. Ông Bà ngoại tôi đem con gái về chăm sóc. Với trái tim yêu thương con vô tận, ông bà đã xin một đứa  bị cha mẹ bỏ trong rơi trong bệnh viện, đem về làm đứa cháu ngoại bị thất lạc cho con của mình .

Đứa con đó cũng không phải là tôi, mà là người con nuôi lớn nhất của mẹ. Mẹ tôi lần hồi bình phục với đứa con còn đỏ hỏn mới đôi ba ngày tuổi. Ông bà ngoại coi đứa bé như ruột thịt. Thương yêu và hết lòng chăm sóc. Rồi tiếng lành đồn xa. Thêm một đứa trẻ mới sinh được vứt trước nhà ông bà ngoại. Rồi đứa thứ hai và tới tôi là đứa thứ ba.

Mẹ tôi đã vứt tôi trước cửa nhà người lạ và biến mất. Không biết bà có núp ở một góc nhà nào đó để theo dõi tiếng khóc của tôi. Hay xem mẹ nuôi tôi đã làm gì với đống vải nhăn nhúm quấn lấy tôi mới sinh được 3 ngày tuổi.

Đương nhiên là tôi không biết gì hết. Tôi không biết cha mẹ mình là ai và vì sao họ bỏ rơi tôi. Tôi không biết mình lúc đó mình khóc nhiều hay ít? Tôi bú sữa bò hay nước cháo để sống còn?. Tôi dễ nuôi hay oèo uột, tôi cũng chẳng hay. Bốn đứa con nít chỉ biết ăn biết bú khóc mãi không thôi. Hẳn chỉ có những người có trái tim thật nhân từ và nhẫn nại mới mở lòng ra cưu mang như vậy. Ông bà ngoại làm việc nhiều lần hơn để nuôi bầy cháu nhỏ không ruột thịt gì với mình. Mẹ nuôi tôi mất một đứa con, nhưng có đến 4 đứa khác để bù trừ. Mẹ quên cả bệnh, mẹ quên cả bản thân mình. Mẹ quần quật cả ngày để chỉ sống vì chúng tôi. Nhà nghèo, còn ít đất đai ông bà để lại ông bà ngoại cắt bán dần để nuôi chúng tôi.

Khi tôi lớn hơn một chút, tôi nhận thức được tôi khác hơn các anh chị của mình. Một cái chân tôi không đi được. Tôi đi từng bước khó nhọc mà người xung quanh gọi tôi là "Thằng thọt". Tôi buồn lắm mỗi khi chạy chơi với các anh chị trong nhà. Tôi luôn bị thua thiệt vì sự không nguyên vẹn của mình. Trong tôi là sự mặc cảm về thân phận tật nguyền.

Mẹ nuôi tôi không gì vậy mà hất hủi tôi. Bà yêu thương tôi hơn các anh chị khác. Bà thường gọi đùa tôi là “Con trai đích tôn” Lúc đầu tôi không hiểu gì cả vì trước tôi đã có anh Ba rồi mà. Sau này trong một lần trò chuyện tôi đã hiểu và thương yêu ông bà ngoại và mẹ hơn bao giờ hết.

Nguyên do là lúc nhỏ tôi bị sốt tê liệt. Ông bà ngoại đã bán nốt miếng đất hương quả ông bà cố để lại cho cháu đích tôn mà chạy chữa cho tôi. Tôi thoát chết, nhưng một chân đã bị rút teo lại. Tội nghiệp mẹ tôi đã cố gắng tập cho tôi đi lại, bao nhiêu thuốc thang để cái chân tôi được như bây giờ. Tôi mang một cái chân bất toàn như mang cả một nghĩa tình và ân huệ của ông bà và mẹ tôi. Những người không hề có dính dáng với máu mũ, ruột thịt.

Tôi lớn lên trong căn nhà tình nghĩa đó. Ông bà ngoại ngày một già, tiền bạc cũng không còn. Mẹ tôi bôn ba buôn bán không đủ nuôi mấy miệng ăn đang độ tuổi lớn. Chúng tôi không thể đến trường đều đặn mà phải cùng nhau đi làm để phụ kiếm sống. Các anh chị tôi thay nhau vừa bán vé số vừa đi học. Tôi cũng vậy, la lết ở các bến xe, nhà hàng để kiếm cơm .

Ông ngoại bệnh nặng,  mẹ tôi phải ở nhà chăm sóc. Tôi 8 tuổi ôm tập vé số len lỏi chốn chợ đời. Trái tim nhân hậu của con người dường như bị đánh mất trong xã hội lừa đảo. Tôi thường xuyên bị đánh vì bị giành mối. Có lúc về nhà trắng tay vì cả xấp vé số và tiền bị trấn lột. Có những cạm bẩy mà xã hội đã đưa anh em chúng tôi lạc bước. Đồng tiền của người nghèo đổi bằng nhiều thứ trong đó có sự gian xảo lọc lừa. Đồng tiền nhầu nát và bẩn thỉu, có khi đổi bằng nước mắt và cả chính máu và mạng sống của mình.

Bụi đời cũng có lắm phe nhóm, băng đảng và phe cánh. Ngoại và mẹ dạy chúng tôi phải lương thiện. Ôi! Lương thiện chỉ từ chết đến bị thương. Bản năng sinh tồn không cho phép con người khoanh tay khi bị đàn áp và ức hiếp. Anh Ba tôi đã phẩn nộ chống cự, gây ra ấu đả đổ máu đụng đến công an can thiệp.
Cuối cùng của bi kịch đời người là tất cả anh em chúng tôi bị lôi ra khỏi vòng tay mẹ nuôi và bị đưa vào trại mồ côi. ( trừ chị Hai tôi có giấy tờ xin nuôi chính thức. )

Tôi rời xa căn nhà thân yêu đã cưu mang tôi khôn lớn là ngày giỗ đầu ông ngoại. Năm đó tôi vừa 12 tuổi. 12 tuổi của một đứa bé mồ côi và lăn lóc chợ trời để mưu sinh thì sự hiểu biết cũng chính chắn lắm rồi. Tôi đã biết đâu là tình thương yêu thật sự. Đâu là nơi tiếp nhận những đứa bé bụi đời. Tôi không muốn đi vì mẹ nuôi tôi đã là một phụ nữ trung niên hay đau yếu. Bà ngoại cũng đang bước dần vào những ngày cần người chăm sóc đở đần. Chúng tôi phải bỏ hai người lại trong nước mắt. Tôi tự nhủ với lòng sẽ có ngày trở về phụng dưỡng trả ơn.

Tất cả chúng tôi bị đưa lên xe và bước vào một cuộc sống mới. Trong viện mồ côi, chúng tôi phải sống với rất nhiều bạn đồng trang lứa. Họ cùng có cuộc sống bụi đời lang thang để kiếm sống như chúng tôi. Tuy nhiên tôi có phước hơn họ là đã từng có một mái nhà, có ông bà và mẹ. Có gia đình ấm cúng thương yêu dù chẳng ruột rà. Còn họ đủ mọi thành phần bị gom bắt đưa về đây . Có bạn hút xì ke lên cơn la hét cả đêm. Có bạn người đầy những vết sẹo vì đâm thuê chém mướn. Có bạn chuyên nghề móc túi hay dẫn gái ăn sương. Họ thích sống bụi đời. Họ tự do quậy phá quen rồi. Họ không muốn cuộc sống tù túng bó buộc nơi này. Tâm lý của họ là phó cho định mệnh. Họ tin đời họ chẳng bao giờ có tương lai tươi sáng.

Nghe lời dặn dò của mẹ nuôi trước lúc ra đi. Tôi siêng năng học chữ, học nghề. Tôi không trốn trại ra ngoài rong chơi. Tôi chấp hành kỷ luật dù khó đến đâu. Tôi nhịn nhục dù bị bức hiếp rất nhiều của những người bạn chung phòng. Tôi tự nhủ:" Đây là điều kiện để mình trưởng thành và tự lập" Tôi nhớ lời ông ngoại đã nói" Dù chân con có tàn tật, nhưng đầu óc con minh mẫn. Hãy tự tin ở mình và đứng thẳng lên bằng trí tuệ " Đêm đêm tôi úp mặt xuống gối khóc vì nhớ mẹ nhớ ông bà. Tôi nhớ quá chừng căn nhà nghèo nàn dột nát mà ấm cúng thâm tình. Họ tuy không giàu có, nhưng trái tim và lòng nhân ái của họ thật bao la.

Một ngày tôi được gọi lên văn phòng. Trước mặt tôi là một người phụ nữ da trắng trung niên. Đây là người đã lập thủ tục để xin con nuôi tại Việt Nam mà tôi được giới thiệu là một trong số người đạt đủ tiêu chuẩn.

Tôi lặng người đi vì hồi hộp. Tôi có được chọn không? nếu chọn tôi sẽ đi đâu?. Cuộc sống thế nào? Tôi còn có cơ hội  để thăm viếng và giúp đở mẹ nuôi tôi  không? Tôi run run cúi mặt lo lắng. Người phụ nữ có mái tóc vàng thật đẹp, gương mặt phúc hậu bước lại gần tôi. Bà nắm bàn tay tôi ấm áp. Bà nhìn tôi trìu mến. Có lẽ thành tích của tôi ở trường khiến bà hài lòng.

Tôi được mời lên văn phòng nhiều lần để làm thủ tục giấy tờ. Tôi bằng lòng làm con nuôi người phụ nữ có gương mặt phúc hậu ấy. Tôi sẽ có thêm một bà mẹ. Sẽ bước qua một bước ngoặc mới. Tôi sẽ cố gắng học tập và làm tốt bản thân. Còn những gì kế tiếp thật tình tôi không dám nghĩ đến.

Người muốn đem tôi về làm con nuôi là một người phụ nữ Mỹ độc thân. Bà là nữ Đại Úy không quân trong quân lực Hoa Kỳ. Bà là một người tham gia nhiều chương trình từ thiện tại VN. Hiện tại bà đang công tác tại một căn cứ không quân của Mỹ tại Nhật Bản.

Sau bao nhiêu lần mẹ nuôi tôi đi đi về về, tốn rất nhiều tiền để hoàn tất giấy tờ thủ tục. Tôi chính thức được công nhận làm con nuôi của mẹ Lisa theo đúng luật định. Bà là một người phụ nữ có lòng hảo tâm. Khi nghe tôi kể về quá khứ của mình, bà đã đến nhà mẹ nuôi tôi và hết lòng giúp đở. Bà cho tôi đi học thêm sinh ngữ và chỉ dạy tôi rất nhiều về cuộc sống ở Mỹ để dễ hội nhập
........

Tôi đã đến nơi này, một căn cứ không quân Hoa Kỳ trong lòng nước Nhật. Hai mẹ con tôi sống trong một căn hộ được chính phủ cấp khang trang. Tôi được giới thiệu với các bạn bè của mẹ. Ban đầu tôi rất mặc cảm vì thân thế của mình. Nhưng dần dà tôi mới thấy rõ những tư tưởng phóng khoáng của người Mỹ. Họ tôn trọng giá trị và tự do của mỗi con người không phân biệt xuất thân. Những người lính nơi đây cho tôi một cảm giác ấm áp tình thân như người trong một gia đình.

Tôi thấy mình thật hạnh phúc và may mắn có thêm một bà mẹ nuôi hết sức tốt bụng. Bà đã coi tôi như con đẻ, chăm sóc tôi chu đáo, chuẩn bị cho tôi tất cả để tôi không thiếu thốn một thứ gì. Bà đã bỏ tất cả thời gian sau giờ công tác để dạy tiếng Anh cho tôi. Trong nhà mọi nơi, mọi chỗ đểu có gắn những mẫu giấy nhỏ ghi rõ tên bằng Anh ngữ của đồ vật đó. Bà lấy ngày nghỉ để dẫn tôi đi chơi. Chỉ cho tôi và dạy tôi nói cho đúng. Bà mời cô giáo đến tận nhà để dạy tôi học để theo kịp bạn bè khi tới lớp.

Mỗi ngày bà nấu cho tôi những món ăn Việt Nam mà bà học được trên Internet. Có khi ngon, có khi dở nhưng tôi rất thích vì mẹ đã nấu bằng cả trái tim. Bà đã cho tôi một tấm gương về cuộc sống tự lập và sự tốt đẹp của người quân nhân Hoa Kỳ.

Tôi đã đến trường và có nhiều bạn. Mỗi sáng tôi ra đón xe bus trước nhà để đến trường trong căn cứ . Tuy hơi khó khăn trong vấn đề ngôn ngữ nhưng tôi cố gắng nghe và cố gắng rèn luyện. Tôi là một thanh niên đầy đủ sức khỏe. Một học sinh lớp 10 đầy triển vọng. Tôi có một người mẹ tốt bụng , xinh đẹp và tài ba. Tôi sẽ đi lên bằng chính đôi chân không được nguyên vẹn của mình. Bằng nghị lực và niềm tin vào ngày mai tôi tin tôi sẽ thành công.

Con người không ai có thể chọn xuất thân của mình. Tôi đã không may mắn được mẹ ruột thương yêu, đùm bọc. Mẹ bỏ tôi cho người khác hẳn mẹ có nỗi khổ riêng tư. Hai người mẹ nuôi đã cho tôi thấy tình mẫu tử trong trái tim tiềm ẩn của mỗi người phụ nữ. Tôi không trách mẹ ruột và càng yêu kính mẹ nuôi. Trong đời tôi may mắn có đến 3 bà mẹ. Xin ơn trên cho tất cả các bà mẹ của tôi đều được bình an.

Tôi cũng không mặc cảm mình là người Việt nam nói không rành tiếng Mỹ. Rồi ngày qua ngày tôi sẽ nói rành rọt như họ. Tôi cũng không vì cái chân không được nguyên vẹn mà bỏ rơi ý chí và ước mơ của mình. Tôi sẽ học giỏi và sẽ là một bác sĩ quân y tương lai như mẹ nuôi. Tôi sẽ giúp đở những trẻ em khuyết tật, những đứa bé mồ côi như tôi.

"Không có gì là không thể thực hiện nếu mình quyết tâm." Mẹ nuôi tôi đã nói với tôi như vậy. Tôi tin tưởng bà sẽ bên cạnh và giúp tôi thực hiện những ước mơ của mình.  Nơi đây cũng có vài gia đình sĩ quan người Việt. Tôi đã đến đó,  đã được cùng họ trò chuyện bằng tiếng mẹ đẻ của mình. Tôi đã nhận những thân tình và những lời dặn dò khuyên bảo. Tôi coi đây là một mái ấm thứ hai của mình trong căn cứ này.

Tôi không hề cô đơn hay cảm thấy lẻ loi mà tôi thấy mình rất hạnh phúc. Ơn trên đã không bạc đãi  mà đã cho tôi rất nhiều ân sủng và phước lành. Tôi phải nắm lấy những may mắn đó mà bước tới bằng tấm lòng biết tri ân và báo đáp.

Một ngày nào đó trong tương lai tôi sẽ về lại VN. Bằng chính đồng lương của mình kiếm được. Tôi sẽ xây nhà cho mẹ nuôi và bà ngoại. Tôi sẽ cho mẹ tôi sống cuối đời no ấm, đầy đủ và hạnh phúc. Đứa con mẹ nhặt trước cửa nhà sẽ không bao giờ quên công ơn của mẹ

Mùa Xuân đã về trong căn cứ. Tôi cùng mẹ tham dự những buổi liên hoan dành cho gia đình binh sĩ. Tôi hãnh diện làm con của mẹ, tôi hãnh diện là một người Mỹ gốc Việt. Tôi cố gắng học tập, giúp mẹ những việc nặng nhọc, tôi phụ mẹ cắt cỏ, quét lá, dọn dẹp nhà cửa và nấu cho mẹ những món ăn VN mẹ thích. Tôi sẽ cho mẹ niềm vui để mẹ xóa đi nỗi buồn cô đơn của một người phụ nữ độc thân. Tôi sẽ cho mẹ một tình cảm mẹ con ấm áp. 

Gia đình chúng tôi lấp lánh ánh đèn trên cây thông Giáng Sinh. Hạnh phúc bao trùm hai mẹ con tôi trong đêm giá lạnh. Tình yêu thương không phân biệt màu da và chủng tộc. Mẹ con tôi hai con người đều thiếu thốn tình mẫu tử. Chúng tôi sẽ bù đắp cho nhau và xây dựng mái ấm gia đình.

Đây là mùa Xuân đầu tiên của tôi nơi xứ người. Đêm nay tôi sẽ cùng mẹ Lisa coundown mừng xuân mới. Mùa Xuân nơi đây, xứ sở hoa Anh Đào sẽ là mùa Xuân thần thoại của tôi.

Nguyễn thị Thêm.
Viết thay cho cháu Tuấn khi gặp cháu trong căn cứ Yokota

Niềm Vui Có Được Mỗi Ngày - Đỗ Công Luận

Thursday, February 22, 2018

12 Câu Châm Ngôn Thâm Thúy Của Người Nhật Khiến Bạn Thay Đổi Cách Nhìn Cuộc Sống


Là một quốc đảo với nếp sống hiện đại bậc nhất hành tinh, nhưng người dân Nhật Bản vẫn giữ gìn tốt những bản sắc văn hóa cùng nhiều triết lý cổ xưa. Những câu châm ngôn sau đây tuy đơn giản nhưng lại ẩn chứa rất nhiều hàm ý sâu sắc và đầy trí tuệ.


1. Nếu một vấn đề có thể giải quyết, thì chẳng cần phải lo lắng. Nếu vấn đề không thể giải quyết, có lo cũng vô ích
Lo lắng không chỉ làm bạn tốn thời gian mà còn ảnh hưởng đến sức khỏe. Nhiều người dù biết vậy nhưng vẫn không thoát được thói quen lo này. Tốt hơn hết khi gặp khó nạn, hãy nghĩ cách giải quyết và mau chóng thực hiện nó.

2. Nhanh nghĩa là từ từ và liên tục
Người Nhật luôn đề cao tính kiên nhẫn, với họ đây là con đường ngắn nhất để đi đến thành công. Người vội vã, thường rất dễ bỏ cuộc bởi áp lực mà họ tự tạo ra cho mình quá lớn. Ngược lại, người từ tốn lại là những người sâu sắc. Bạn có thể chưa giỏi khi bắt đầu một công việc, nhưng hãy cải thiện nó “từ từ và liên tục”.

3. Bên cạnh những vĩ nhân luôn có sự giúp đỡ của những người bình dị
Vì con người không thể tách rời xã hôi, một tập thể vững mạnh sẽ cho ra nhiều cá nhân xuất sắc. Một đất nước phồn thịnh sẽ sản sinh nhiều nhân tài.

4. Tình nghĩa vợ chồng giống như bàn tay và đôi mắt
Khi tay đau, mắt sẽ khóc; và khi mắt đẫm lệ, tay sẽ nhẹ nhàng lau nước mắt.

5. Mặt trời không biết người đúng kẻ sai. Nó tỏa sáng và mang lại sự ấm áp cho tất cả
Nếu ai đó phạm phải lỗi lầm với bạn. Hãy cứ đối đãi bao dung, dùng sự bao dung của bạn để sưởi ấm cho những lỗi lầm mà họ mắc phải. Giống như mặt trời.

6. Ếch ngồi đáy giếng nào đâu biết biển cả mênh mông?
Vì vậy dù đã trở thành cường quốc hàng đầu thế giới, người dân Nhật vẫn không ngừng học tập và nghiên cứu.

7. Buồn bã giống như một chiếc váy bị rách, nên chỉ cất ở nhà
Váy rách có thể thay váy mới, tâm trạng buồn cần phải tự mình phấn chấn lên.

8. Làm tất cả những gì bạn có thể và để phần còn lại cho số phận
Người Nhật tin rằng mỗi người đều có 1 số phận, con người không quản được số phận, cách tốt nhất để sống tốt là làm hết khả năng của mình.

9. Bạn sẽ không vấp ngã nếu cứ nằm lỳ trên giường
Chỉ những người không dám bước đi mới không bao giờ vấp ngã. Trên thực tế, những người thành công đã phải trải qua va vấp rất nhiều. Dù không hề dễ chịu nhưng đó lại chính là những bài học vô giá mà họ không tìm được ở đâu khác. Đừng để nỗi sợ hãi, do dự kìm hãm đôi chân bạn tiến về phía trước.

10. Luôn nhường đường cho người ngốc và người điên
Tranh luận với nhưng người này chỉ làm bạn tốn thời gian, trừ phi bạn là bác sĩ tâm lý.

11. Giỏi leo trèo như khỉ vẫn có lúc ngã từ trên cây
Ngay cả những người tuyệt vời nhất vẫn có lúc phạm sai lầm. Vì vậy đừng sợ mắc lỗi nếu còn làm chưa tốt, cũng đừng quá tự hào khi bạn đã giỏi giang.

12. Nếu phụ nữ muốn gì, núi cao biển lặn cũng không cản được họ
Ai cũng có năng lực của riêng mình, sức mạnh là nằm ở ý chí không phân biệt nam nữ.

Hoàng An, Theo Theheartysoul

Hết Tết - Đỗ Công Luận

Wednesday, February 21, 2018

Phần “Con” Và Phần “Người” – Ngô Du Trung FB


Một cặp trai gái Việt du lịch ở Mỹ, đi thăm nhiều nơi. Một bữa đang ngồi uống cà phê trong một khu mua sắm nổi tiếng ở New York, trao đổi với nhau những nhận xét về nước Mỹ thì bất ngờ một người Mỹ ngồi bàn bên cạnh lên tiếng bằng tiếng Việt thật chuẩn:

“Chào mừng hai bạn đến thăm nước Mỹ!”
Cặp trai gái người Việt hơi bất ngờ, nhưng cùng đáp lại:
“Chào ông!…”
Người đàn ông Mỹ cười, nói tiếp:
“Tôi có thể ngồi chung bàn trò chuyện với hai bạn được không?”
Cặp trai gái Việt vẻ lúng túng, rồi gật đầu:
“Ok. Ông nói tiếng Việt giỏi quá!”

Người đàn ông Mỹ bưng tách cà phê của mình sang kéo ghế ngồi xong cười đáp:
“Cảm ơn hai bạn. Trước năm 75 tôi có ở miền Nam VN khoảng 10 năm.. Tôi yêu đất nước và con người ở đó nên đã bỏ công ra học tiếng Việt! Cũng may là tôi không đến nỗi dốt lắm nên dù tiếng Việt rất khó cũng học nói được chút chút…“

Người đàn ông Mỹ nói xong cười lớn rất thoải mái. Còn cặp trai gái Việt thì có vẻ bẽn lẽn, chắc lo lắng không biết mình đã có nói gì không tốt trước đó. Người đàn ông Mỹ gợi chuyện:
“Hai bạn thấy nước Mỹ thế nào?”
Anh trai Việt đáp:
“Dĩ nhiên là giàu có rồi.”
Người đàn ông Mỹ quay sang nhìn cô gái:
“Còn cô?”
Cô gái Việt ngập ngừng:
“Tôi cũng thấy nước Mỹ thật là giàu!”
Người đàn ông Mỹ cười lớn rồi hỏi tiếp:
“So với nước bạn thì thế nào?”
Cô gái Việt nhanh nhẩu đáp:
"Dĩ nhiên đất nước chúng tôi không giàu bằng Mỹ, vì mới thoát ra khỏi chiến tranh.

Chúng tôi đang phấn đấu để tiến lên. Và trên thực tế thì đất nước tôi cũng đã tiến bộ vượt bực. Thành phố, khu đô thị được xây dựng nguy nga; đường sá được mở rộng; nhiều khu nghỉ dưỡng, ăn chơi; nhiều người có xe hơi nhà lầu. Ở Việt Nam bây giờ không thiếu thứ gì… "

Cô gái vừa nói vừa quơ quơ cái điện thoại iphone x cố ý cho người đàn ông Mỹ nhìn thấy.


Người đàn ông Mỹ khen:
“Cái điện thoại của bạn… hiện đại thật! Mà công nhận hai bạn giàu thật. Trên người hai bạn toàn hàng hiệu. Chuyện đó cũng không có gì lạ. Theo tôi biết thì nhiều quốc gia trên thế giới, cộng với ngân hàng thế giới mấy chục năm nay, vừa cho không, vừa cho vay nhẹ lãi cho VN mấy trăm tỷ đô la; còn cộng đồng người Việt mỗi năm gởi về trên dưới chục tỷ đô la, và liên tục mấy chục năm như vậy rồi. Với số tiền khổng lồ đó, nếu phần lớn không chạy vào túi lãnh đạo của các vị thì chắc đủ để mua cho mỗi gia đình ở Việt Nam một chiếc xe hơi…”



Người đàn ông Mỹ ngừng lại nhìn hai người VN thăm dò, rồi tiếp:

“Nhưng thôi, vì cách nào mà đất nước bạn “giàu có” lên thì cũng không nên “moi móc” ra làm chi, đúng không?; miễn sự “giàu sang” đó làm cho các bạn hãnh diện là được rồi, đúng vậy không?…”

Người đàn ông Mỹ ngừng lại chờ đợi vì thấy anh thanh niên Việt mấp máy môi như định nói gì đó. Nhưng chờ một lúc không thấy gì nên người đàn ông Mỹ nói tiếp:
“Tiếng Việt thật thâm thuý. Cái chữ human being của chúng tôi thì tiếng Việt gọi là “con người”. Tức là trong cái “con người” có hai phần. Một phần “con” và một phần “người”. Một đất nước văn minh tốt đẹp, một thể chế văn minh tốt đẹp là một đất nước, một thể chế trong đó con người được phát triển cân bằng, đầy đủ về cả hai phần: phần “con” và phần “người”. Đất nước của các bạn hiện nay chỉ mới có phát triển phần “con”, dù vẫn còn nhiều người nghèo đói, nhưng có vẻ như các bạn đã cảm thẩy đầy đủ, thoả mãn rồi, tự thấy mình văn minh tiến bộ ngang ngang với thế giới rồi… Chính vì cái suy nghĩ đó mà khi các bạn đi du lịch sang nước tôi, các bạn chỉ trầm trồ sự giàu sang, sung túc, tức là các bạn chỉ thấy cái phần “con”….”

Người đàn ông Mỹ nhìn thấy vẻ ngượng ngùng trên hai khuôn mặt người Việt, mỉm cười tiếp:
“Vì tôi thích VN nên thích kết bạn với người Việt. Tôi có mấy người bạn là Người Việt tỵ nạn cs ở đây. Các bạn ấy cho tôi xem nhiều cmts của người Việt trong nước trên các trang mạng facebook. Người Việt trong nước bảo rằng họ không cần nhân quyền, không cần đa nguyên đa đảng; họ bảo mỗi ngày họ được ăn nhậu phủ phê; họ nói mỗi sớm mai thức dậy họ thấy mặt trời vẫn mọc trên quê hương… v.v… . Ha ha… thoả mãn được cái phần “con” là họ thấy thoả mãn rồi, thấy hạnh phúc rồi… Hai bạn có thấy như vậy không?”

Nói xong người đàn ông Mỹ đứng dậy đưa tay bắt tay hai người Việt Nam, cười cười nói:
“Tôi có việc không ngồi được lâu hơn. Chúc hai bạn một chuyến du lịch thật vui vẻ và học hỏi được nhiều điều mới mẻ. Hy vọng khi các bạn về nước sẽ nói cho bạn bè của bạn trong nước hiểu về cái phần “người” của nước Mỹ, chứ không phải chỉ cái phần “con”…”


Ngô Du Trung FB

Mồng Năm Tết, Nhớ Xuân Xưa Kỷ Dậu - Trầm Vân

Chim Làm Tổ Ở Đâu? - Hay Thật!



















Sưu tầm

Ngày Tết Mùng Năm - Đỗ Công Luận

Vì Sao Chủ Nghĩa Xã Hội Thất Bại?


Paul R. Gregory: Why Socialism Fails

Hoover Institution, 10/01/2018
Người dịch: Hiếu Chân

Khi Liên bang Xô viết gần sụp đổ, Francis Fukuyama tuyên bố chế độ dân chủ tự do đã chiến thắng chủ nghĩa xã hội kế hoạch hóa trong bài nhận định năm 1989 của ông, “Điểm tận cùng của Lịch sử?”. Hơn một phần tư thế kỷ sau đó, Liên xô quả thực đã tan rã. Phần lãnh thổ Đông Âu của nó bây giờ thuộc về Liên minh Âu châu. Trung Quốc có một nền kinh tế thị trường cho dù đất nước vẫn bị cai trị bởi một đảng duy nhất. Còn các nhà nước “xã hội chủ nghĩa” Bắc Hàn, Cuba và Venezuela đang trong đống đổ nát về kinh tế. Giờ đây, ít ai ủng hộ việc “quay lại Liên xô”. Nhưng đồng thời, nhiều người vẫn coi chủ nghĩa xã hội là một hệ thống kinh tế hấp dẫn. Hãy xem trường hợp ông Bernie Sanders (**) – một người công khai thừa nhận ủng hộ một nước Mỹ xã hội chủ nghĩa – và rất nhiều người trẻ trưởng thành vào điểm chuyển giao giữa hai thế kỷ ưa thích chủ nghĩa xã hội hơn chủ nghĩa tư bản.

Sự tương đồng về kỵ sĩ và con ngựa giải thích cho sự hấp dẫn kéo dài của chủ nghĩa xã hội. Những người xã hội chủ nghĩa tin rằng các chế độ xã hội chủ nghĩa đã chọn sai kỵ sĩ để cưỡi con ngựa xã hội chủ nghĩa đi tới chiến thắng xứng đáng với nó. Những kỵ sĩ tệ hại như Stalin, Mao, Fidel, Pol Pot và Hugo Chavez đã chọn những chiến thuật và chính sách dẫn con ngựa xã hội chủ nghĩa của họ đi trật đường. Nhưng trên thực tế, một cái nhìn vào cách thức Liên xô hoạt động lại bộc lộ rằng, chính bản thân con ngựa mới là vấn đề.

Sau khi giành được quyền lực một thế kỷ trước và nắm giữ quyền lực thông qua một cuộc nội chiến, những người cộng sản Liên xô có ý định xây dựng một nhà nước xã hội chủ nghĩa sẽ chôn vùi chủ nghĩa tư bản. Sở hữu nhà nước và kế hoạch hóa khoa học sẽ thay thế cho tình trạng vô chính phủ của thị trường. Lợi ích vật chất sẽ dồn về phía giai cấp lao động. Một nền kinh tế công bằng sẽ thay cho sự bóc lột của chủ nghĩa tư bản và con người mới xã hội chủ nghĩa sẽ nổi lên, những người đặt ưu tiên cho lợi ích của xã hội lên trên lợi ích cá nhân. Chuyên chính vô sản sẽ bảo đảm quyền lợi của giai cấp lao động. Thay vì bóc lột giá trị thặng dư từ người lao động, nhà nước xã hội chủ nghĩa sẽ lấy đồ cống nạp của các nhà tư bản để tài trợ cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Những nền tảng căn bản của “con ngựa” Xô-viết đã được thiết lập vào đầu thập niên 1930. Theo hệ thống này, Stalin và bộ chính trị của ông ta đặt ra những ưu tiên chung cho các bộ công nghiệp và ủy ban kế hoạch nhà nước. Các bộ và các nhà kế hoạch làm việc cùng nhau để soạn ra các kế hoạch kinh tế. Cán bộ quản lý của hàng trăm ngàn nhà máy, công xưởng, cửa hàng thực phẩm và ngay đến các nông trại đều bị pháp luật bắt buộc phải hoàn thành kế hoạch mà cấp trên giao cho.

Nhà nước Xô-viết khởi động nền kinh tế kế hoạch hóa xã hội chủ nghĩa của họ khi thế giới tư bản chủ nghĩa chìm sâu vào suy thoái, chiến tranh thương mại và lạm phát phi mã. Chính quyền Xô-viết khoe khoang về mức tăng trưởng chưa từng có trước đây. Các tổ hợp công nghiệp mới mọc lên từ số không. Các tạp chí đăng hình ảnh những công nhân vui sướng nghỉ ngơi trong những khu nghỉ mát đầy đủ tiện nghi. Thông điệp là: Phương Tây đang thất bại và hệ thống kinh tế Xô-viết là con đường đi tới tương lai.

Khi cuộc cạnh tranh giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội Liên xô trở nên rõ rệt trong thời Chiến tranh Lạnh, hoạt động nghiên cứu học thuật nghiêm túc về nền kinh tế Xô-viết cũng bắt đầu. Chương trình nghiên cứu bao quát của các học giả phương Tây nhắm vào “kế hoạch hóa khoa học” – những người xã hội chủ nghĩa tin rằng các chuyên gia kỹ trị có thể quản lý nền kinh tế tốt hơn là những lực lượng thị trường tự phát. Suy cho cùng, chẳng phải các chuyên gia thì hiểu biết hơn người mua người bán về chuyện cần sản xuất cái gì, như thế nào và cho ai sử dụng hay sao?

Chính các nhà kinh tế học người Áo F.A. Hayek và Ludwig von Mises là những người chống lại niềm tin này quyết liệt nhất. Trong sự phê phán có tính biểu tượng của họ, được trình bày trong hàng loạt công trình nghiên cứu từ thập niên 1920 đến 1940, họ đi đến kết luận rằng chủ nghĩa xã hội sẽ thất bại. Trong các nền kinh tế hiện đại, hàng trăm ngàn doanh nghiệp sản xuất ra hàng triệu sản phẩm. Quản lý một số lượng lớn như vậy là việc quá phức tạp mà không một cơ quan hành chính nào có thể phân bổ nguồn lực nổi, cho dù có sự trợ giúp của công nghệ máy tính tinh vi nhất. Kinh tế hiện đại do đó quá phức tạp và không kế hoạch hóa được. Không có thị trường và giá cả, các nhà hoạch định chính sách không biết được mặt hàng nào bị khan hiếm, sản phẩm nào dư thừa. Nếu tài sản thuộc về mọi người, thì những người quản lý tài sản cho xã hội sẽ phải theo những luật lệ nào?

Giải pháp của người Xô-viết cho những vấn đề về tính phức tạp và thông tin là một kế hoạch quốc gia đặt mục tiêu sản xuất cho những khu vực kinh tế lớn chứ không phải cho những giao dịch cụ thể. Nói cách khác, thay vì bắt buộc nhà máy A phải giao cho nhà máy B 10 tấn dây cáp thép, các nhà kế hoạch đặt mục tiêu tổng số tấn dây cáp được sản xuất trong cả nước. Chỉ có một số mặt hàng đặc biệt – chẳng hạn như dầu thô, quặng nhôm, than nâu, điện năng và toa vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt – mới được lập kế hoạch như những giao dịch thật sự. Còn tất cả những mặt hàng khác chỉ được kế hoạch hóa theo số lượng thô, chẳng hạn như đặt mục tiêu dệt ra vài triệu mét vuông vải. Các đặc điểm của sản phẩm, kế hoạch giao hàng và thanh toán tiền chỉ được vạch ra ở những cấp thấp, và thường dẫn tới những kết quả thảm hại.

Kế hoạch hóa khoa học kiểu Xô viết trong thực tế chỉ tác động tới một phần rất nhỏ sản phẩm. Vào đầu thập niên 1950, các cơ quan trung ương lập ra hơn 10.000 chỉ mục kế hoạch trong khi sản phẩm công nghiệp có đến hơn 20 triệu chỉ mục khác nhau. Các cơ quan trung ương lập ra những kế hoạch tổng quát cho các bộ công nghiệp, các bộ này lại đề ra những kế hoạch chi tiết hơn cho các “khu hành chính quan trọng”, nơi sẽ chuẩn bị kế hoạch cho các doanh nghiệp. Không bao giờ có yêu cầu các quan chức hàng đầu phải đưa ra kế hoạch sản xuất các sản phẩm đặc biệt nào đó.

Để làm cho vấn đề thêm phức tạp, gần như tất cả mọi kế hoạch đều chỉ là “dự thảo”, có thể được thay đổi bất cứ lúc nào bởi các quan chức của đảng và chính quyền cấp cao hơn. Sự can thiệp thường xuyên này, gọi là “giám sát”, là một điều phiền toái xảy ra từ ngày đầu tiên tới ngày cuối cùng của hệ thống Xô-viết, nhưng đó cũng là cột trụ cho công cuộc phân bổ nguồn lực.

Các nhà kế hoạch trung ương chuẩn bị những kế hoạch sơ bộ cho một bộ phận nhỏ của nền kinh tế. Những “kế hoạch dự thảo” này lại kích hoạt “những trận chiến giành kế hoạch” to lớn khi các bộ và các doanh nghiệp tìm cách hoàn thành mục tiêu sản xuất của họ và đáp ứng các định mức giao hàng; tất cả những chuyện này đều có thể thay đổi bởi các cán bộ đảng và cán bộ địa phương vào bất cứ lúc nào.

Như bộ trưởng công nghiệp nặng Sergo Ordzhonokidze than phiền vào năm 1930: “Tôi đoán họ nghĩ rằng chúng tôi là một lũ ngốc. Mỗi ngày họ cho chúng tôi từ nghị quyết này đến nghị quyết khác mà không có cơ sở nào cả”. Một nửa thế kỷ sau một nhà thầu quốc phòng ẩn danh cũng đưa ra lời than phiền tương tự: “Họ nhúng mũi vào mọi vấn đề. Chúng tôi bảo họ rằng họ đã sai, nhưng họ vẫn đòi phải làm theo cách của họ”.

Nhiệm vụ của người quản lý được cho là rất đơn giản: Kế hoạch là pháp lệnh, công việc của người quản lý là hoàn thành kế hoạch. Nhưng kế hoạch cứ tiếp tục thay đổi. Hơn thế nữa, nó bao gồm nhiều nhiệm vụ khác nhau, chẳng hạn như giao hàng, sản lượng và phân loại. Xuyên qua toàn bộ lịch sử của Liên xô, tổng sản lượng gộp (đo bằng tấn, mét hoặc toa hàng/dặm) là các chỉ tiêu kế hoạch quan trọng nhất và cũng dễ thao túng nhất. Các nhà sản xuất đinh chẳng hạn, mà sản lượng được tính theo trọng lượng, chỉ sản xuất các loại đinh to và nặng. Các nhà sản xuất máy kéo, cố gắng hoàn thành định mức máy kéo, bị phát hiện chỉ giao cho khách hàng những chiếc máy kéo không có động cơ; buộc khách hàng phải mua động cơ như mua phụ tùng. Các nhà sản xuất giày mà kế hoạch dựa trên số lượng giày làm ra chỉ sản xuất giày cùng một cỡ, cùng một màu, bất chấp nỗi khổ tâm của khách hàng. Những mục tiêu kế hoạch khác, chẳng hạn như áp dụng công nghệ mới hoặc làm giảm chi phí sản xuất, bị lãng quên vì bị coi là không có tác dụng giúp hoàn thành kế hoạch.

Dưới chế độ kế hoạch hóa khoa học, cung cầu phải gần ngang nhau – và do ác cảm của họ đối với tính lộn xộn của thị trường, các nhà kế hoạch Xô-viết không thể cân đối cung cầu bằng cách nâng giá hoặc hạ giá. Thay vì vậy, họ soạn ra cái gọi là “cân đối vật chất”, sử dụng phép kế toán cổ xưa để so sánh những vật liệu nào đang có sẵn với những vật liệu cần có theo một nghĩa nào đó.

Kế hoạch hóa cân đối-vật chất kiểu Xô-viết có rất nhiều khiếm khuyết. Ví dụ, chỉ có thể soạn ra một số sự cân đối – năm 1938 chỉ có 379 sự cân đối ở trung ương được chuẩn bị cho một thị trường có hàng triệu mặt hàng. Và rồi, những sự cân đối này lại dựa trên những thông tin méo mó. Các nhà sản xuất hàng hóa trong phép cân đối này vận động để được phân bổ những mục tiêu thấp, che giấu năng lực sản xuất thật của họ. Những người sử dụng sản phẩm công nghiệp trong phép cân đối, ngược lại, lại khai vống lên những gì họ cần để bảo đảm việc hoàn thành kế hoạch của riêng họ.
Hình dung ra một sự cân đối thích hợp là một công việc mệt mỏi – và các nhà kế hoạch Xô-viết không phải năm nào cũng sáng tác ra cái mới; thay vì vậy, họ áp dụng cách gọi là “kế hoạch hóa từ mức độ đã hoàn tất”, nghĩa là kế hoạch của mỗi năm là kế hoạch của năm trước đó cộng thêm một số điều chỉnh nhỏ.

Vào đầu thập niên 1930, các cơ quan cung cấp phân phối nguyên vật liệu dựa trên những gì họ đã làm trong năm trước đó. Lướt nhanh đến thập niên 1980, cũng vẫn thấy cung cách làm việc như vậy. Khi một nhà sản xuất vật liệu nghề hàn muốn sử dụng tấm kim loại mỏng hơn thì câu trả lời chính thức là: “Tôi không quan tâm tới công nghệ mới. Cứ làm như cũ để mọi sự vẫn như cũ”. Kế hoạch hóa cân đối vật chất là kẻ thù của sản phẩm mới và công nghệ mới bởi vì chúng đòi hỏi phải làm lại một hệ thống các cân đối vốn đã rất mong manh. Các nhà kinh tế học Mỹ nghiên cứu sản xuất công nghiệp của Liên xô trong thập niên 1950 hết sức ngạc nhiên khi thấy những cỗ máy đã sản xuất vài thập niên mà không hề được cải tiến gì cả, một chuyện chưa từng nghe thấy ở phương Tây.

Kế hoạch hóa cân đối vật chất là điểm yếu cơ bản nhất của hệ thống Xô-viết. Nó làm cho nền kinh tế Liên xô bị đông cứng lại. Sản xuất của mỗi năm là bản sao chép năm trước đó. Một cán bộ quản lý Liên xô năm 1985 sẽ cảm thấy hết sức thoải mái trong cùng doanh nghiệp đó vào năm 1935.

Ngoài kế hoạch hóa cân đối vật chất, ngân sách mềm (soft budgets) cũng tạo thành một khuyết điểm nghiêm trọng khác. Nhà kinh tế học Janos Kornai của trường Đại học Harvard lớn lên ở Hungary dưới thời xã hội chủ nghĩa kế hoạch hóa. Nghiên cứu của ông, dựa trên những trải nghiệm trực tiếp, tập trung vào những thất thoát kinh tế diễn ra cùng với những giới hạn của ngân sách mềm. Theo Kornai, nếu doanh nghiệp không phải đối mặt với nguy cơ phá sản, chúng sẽ không tìm cách cắt giảm chi phí và tìm những chiến lược sinh tồn khác. Từ ngày đầu tiên của hệ thống Xô-viết, các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ đã hiểu rằng họ sẽ được tự động cứu nguy, nếu không nói là cứu ngay.

Nguyên nhân ban đầu của chính sách ngân sách mềm là do hệ thống Xô-viết dựa trên kế hoạch sản lượng. Đầu ra của doanh nghiệp này là đầu vào của doanh nghiệp khác. Nếu kế hoạch sản lượng bị đổ vỡ thì toàn bộ kế hoạch sẽ thất bại. Đưa một doanh nghiệp ra khỏi nền sản xuất do làm ăn kém cỏi không đơn giản là một sự lựa chọn.

Trong thực tế, các doanh nghiệp thua lỗ thường trả các khoản tiền hàng bằng trái phiếu ghi nợ (IOU). Các phiếu ghi nợ không được thanh toán đúng hạn sẽ nhiều lên dần rồi đạt tới quy mô khủng hoảng. Gosbank, tức ngân hàng nhà nước Liên xô – sẽ vào cuộc và giải quyết các hóa đơn chưa thanh toán bằng cách phát hành thêm tiền và tạo ra cái mà các quan chức ngân hàng Xô-viết gọi là “treo tiền” – đồng tiền chạy theo hàng hóa hơn là có hàng hóa để mua. Trong thực tế, việc kinh doanh chính của Gosbank trong những năm đầu tiên của hệ thống Liên xô là tổ chức những vụ cứu nguy tài chính. Khi một vụ cứu nguy này hoàn tất cũng là lúc bắt đầu tiến hành vụ cứu nguy kế tiếp.

Vấn đề của chủ nghĩa xã hội không phải là kỵ sĩ tồi mà là chính con ngựa. Hệ thống kinh tế Xô-viết mắc nhiều chứng bệnh cuối cùng sẽ làm nó ngã quỵ. Bắt đầu từ cuối thập niên 1960, kinh tế Liên xô rơi vào cuộc suy thoái kéo dài, về sau được gọi là “giai đoạn trì trệ”. Mikhail Gorbachev được chọn làm tổng bí thư đảng Cộng sản Liên xô năm 1985 với cam kết rằng ông, một nhà cải cách cấp tiến, sẽ đảo ngược đà suy thoái này.

Gorbachev đã thất bại vì cốt lõi của hệ thống kế hoạch hóa Xô-viết đã mục ruỗng. Bất chấp thiên hướng cải cách của ông, Gorbachev vẫn là một tín đồ của chủ nghĩa xã hội. Ông quyết tâm cứu vãn chủ nghĩa xã hội Xô-viết bằng cách làm cho nó giống với chủ nghĩa tư bản. Khi làm như vậy, ông đã tạo ra một nền kinh tế không phải là kế hoạch hóa, cũng không phải kinh tế thị trường – một cuộc tranh chấp đầy hỗn loạn, mà nhân dân Nga tới hôm nay vẫn buồn rầu gọi đó là “chủ nghĩa tư bản hoang dã”.
(*) Paul Roderick Gregory lấy bằng tiến sĩ kinh tế tại Đại học Harvard, làm nghiên cứu viên của Viện Hoover, giáo sư khoa kinh tế của Đại học Houston, Texas; giáo sư nghiên cứu tại Học viện Đức về nghiên cứu kinh tế ở Berlin; chủ tịch danh dự Ban Tư vấn quốc tế trường Kinh tế Kiev (Ukraine). Ông cũng đồng thời là giáo sư thỉnh giảng các trường Đại học quốc gia Moscow (Nga), Đại học Viadrina (Nga) và Đại học Tự do Berlin (Đức).
(**) Bernie Sanders: Thượng nghị sĩ Dân chủ bang Vermont, Hoa Kỳ, thất bại trong cuộc tranh giành với bà Hillary Clinton tư cách đại diện đảng Dân chủ ra tranh cử tổng thống Mỹ trong cuộc bầu cử tháng 11-2016.

Nguồn: http://viet-studies.net

Tuesday, February 20, 2018

Nén Nhang Mùng Ba Tết - Trầm Vân

Con Dâu Nam Bộ & Mẹ Chồng Bắc Kỳ - Lê Hoàng Ân


Nguyên Sĩ Quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà. Sang Hoa Kỳ theo chương trình H.O. 12. Đã từng được giải thưởng đặc biệt Viết Về Nước Mỹ 2011 với bài viết: “Câu chuyện của một H.O.” Tác giả cho biết, “Đây là một chuyện có thật 100% trong gia đình chúng tôi, hoàn toàn không thêm mắm thêm muối. Chúng tôi xin cùng chia sẻ với quý vị độc giả. Lá thư con dâu viết hiện nay được lộng kính và treo trên tường của phòng sinh hoạt gia đình để giữ làm kỷ niệm đẹp.”


* * *

Gia đình chúng tôi gồm 3 người, hai vợ chồng và cậu con trai độc thân của chúng tôi, đáp xuống phi trường Austin vào đêm 06 tháng 07 năm 1992, theo chương trình H.O., vì tôi là đã đi tù cải tạo gần 6 năm rưỡi trong chế độ cộng sản.

Trong khi được phỏng vấn tại Sài Gòn, chúng tôi đã trực tiếp chính thức xin với phái đoàn Hoa Kỳ cho chúng tôi được định cư tại Austin vì năm 1969, với tư cách một sĩ quan giảng viên Anh Ngữ của Trường Sinh Ngữ Quân Đội, tôi đã đi du học tại căn cứ Lackland, San Antonio, TX để lấy bằng sư phạm do Viện Ngôn Ngữ Học thuộc Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ tổ chức, và hay lên Austin chơi vào những ngày cuối tuần. Ngay từ hồi đó, tôi đã mê Austin rồi với toà nhà Quốc Hội tiểu bang, với những viện bảo tàng vô cùng giá trị và những thư viện với những bộ sách quý. Sự yêu cầu của tôi đã được phái đoàn Hoa Kỳ chấp nhận ngay. Hồ sơ xuất ngoại của chúng tôi ghi rõ nơi đến là Austin, TX.

Khi đáp xuống phi trường tại Austin, tôi đã gặp một rừng cờ Mỹ, vì trước đấy mấy ngày là Lễ Độc Lập của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Sau đó vài ngày, tôi lại gặp một rừng cờ Việt Nam Cộng Hoà sau 17 năm không nhìn thấy nó trong một cuộc họp thường niên của Hội Cựu Quân Nhân tại Austin. Trong cả hai lần tôi đều khóc, vì không ngờ còn có ngày nay sau ngần ấy năm trong tù và sống dưới chế độ tàn ác và bưng bít của cộng sản Việt Nam.

Austin, thủ phủ của tiểu bang Texas, là một thành phố tuyệt đẹp với cả ngàn thắng cảnh thiên nhiên, không nhỏ bé nhưng không to lớn quá, dân chúng hiền hoà, dễ thương, không xô bồ, không tranh dành như một số địa phương khác, công việc làm ăn tương đối dễ dàng, thời tiết tương đối ấm áp, hợp với người Việt Nam, nhà cửa tương đối rẻ, cho nên chúng tôi chọn Austin là nhà của chúng tôi trên quê hương thứ hai này. Sự lựa chọn này cho đến ngày hôm nay chúng tôi vẫn thấy rất đúng và rất thích hợp với chúng tôi, không có gì phải hối tiếc hoặc phàn nàn chi cả.

Đến Austin được 12 ngày thì Bảo, người con trai của chúng tôi đã đi làm. Đi làm thợ sửa xe cho một xưởng sửa chữa xe hơi. (Vài tháng sau thì Bảo xin được vào làm tại một hãng điện tử ở gần nhà). Ít ngày sau khi Bảo đi làm thì nhà tôi được giới thiệu đi làm người trông trẻ cho một gia đình kỹ sư người Việt, mỗi cuối tuần mới được về nhà. Hơn một năm sau thì nhà tôi được nhận vào làm tại một hãng may cờ cũng ở gần nhà. Nhờ vậy mà cả ba mới thường xuyên gặp nhau thay vì mỗi tuần chỉ gặp có 1 lần vào ngày cuối tuần. Cả ba người chỉ có được một chiếc xe hơi cũ do hai bà chị tôi cho. Trong thời gian nhà tôi không ở nhà, Bảo thì đi làm khác giờ với tôi, không có ai lo cơm nước, hai cha con chỉ lấy mì ăn liền làm chuẩn! Bảo còn ăn được những thức ăn nhanh chứ tôi thì chịu. Cứ như vậy kéo dài cả năm trời.

Tôi thì may mắn hơn, vì khi chưa có việc làm, nhà thờ “Các Thánh Tử Vì Đạo Việt Nam” tại Austin nhờ tôi đến dậy tiếng Anh cho những người Việt Nam mới qua. Dậy được vài tuần thì có một trường “Kỹ Thuật và Thương Mãi” đến tuyển sinh. Tôi cho cả lớp thi. Giám Đốc trường này bảo tôi thi luôn, dù mới đầu tôi không muốn. Khi có kết quả, cả lớp tôi được nhận cho học, có học bổng bán phần. Môn học là lớp “Điện Tử” 2 năm, khi ra trường thì nhiều hãng điện tử tại Austin sẽ muớn làm chuyên viên kỹ thuật vì có bằng Associate Degree 2 năm. Riêng tôi, giám đốc trường nhờ tôi vừa đi học, vừa kèm tiếng Anh cho cả lớp, và họ sẵn sàng trả lương cho tôi như một nhân viên cấp trung bình của trường, đồng thời tôi nhận được học bổng toàn phần. Vì thế tôi nhận lời. Ngoài ra tôi còn làm việc bán thời gian tại cửa tiệm bán đủ mặt hàng (Service Merchandise) nơi đó có bán các loại hàng điện tử như máy truyền hình, radio, VCR, v.v…do tôi phụ trách. Và lần đầu tiên tôi bán điện thoại di động, to lớn cồng kềnh, giá cả trên ngàn đồng (tiền lúc bấy giờ là to lắm), có tên là Cellular One, (nếu tôi nhớ không lầm) mà phải có người đứng ra bảo lãnh! Thế là cả gia đình tôi ai cũng có lương cả.

Trong khi tôi còn học tại trường, tôi bỏ việc làm thêm và thi vào Motorola và làm cho mãi đến cuối năm 2013 thì về hưu vì đã hơn 75 tuổi. Làm ca đêm cho Motorola, sau này đổi tên là Freescale, tôi đã chứng kiến biết bao nhiêu lần nhân viên bị sa thải, tuy nhiên tôi may mắn nên trụ tại đó cho đến ngày về hưu. Muốn có thêm tiền, trong những ngày xuống ca, tôi nhận đi phiên dịch tại toà án Austin cũng cả chục năm cho đến khi tôi bị điếc đến hơn 70% mới thôi. Bây giờ phải đeo máy điếc mới nghe, nếu không thì không nghe được một tí gì hết. Cả ba chúng tôi đều có công ăn việc làm, và dự trù dành dụm để mua hay xây một căn nhà tương đối tốt để sau này dưỡng già và rồi truyền cho con, cho cháu.

Trong thời gian cả nhà làm việc như thế, một vấn đề lớn và khá nan giải được đặt ra: đó là, Bảo cũng đã tương đối đứng tuổi (trên 30), mà chưa có gia đình, mà chúng tôi cũng chưa có cháu đích tôn, nên chúng tôi hối thúc Bảo lập gia đình. Bảo nói sẽ về Việt Nam tìm hiểu một cô bạn trước đây là bạn học cùng trường nhưng thua mấy lớp với Bảo xem sao. Về được hai lần thì Bảo cho chúng tôi biết là cô bạn đã đồng ý cùng Bảo tìm hiểu kỹ hơn rồi sẽ tính. Chúng tôi cũng đã có dịp liên lạc với các anh chị của cô đó. Và chính tôi cũng có dịp email cho cô ta theo lời yêu cầu của cô ta. Hiện giờ tôi còn giữ cả vài chục email qua lại giữa vợ chồng tôi và cô ta. Cô ta tên là Kiều Yến. Được biết Ba Má của Yến đều đã qua đời trước đó vài năm. Rồi điện thoại qua lại, rồi email qua lại, rồi nói chuyện qua skype qua lại giữa Bảo và Yến đã đành, mà còn giữa chúng tôi và Yến và gia đình Yến nữa. Sau cùng, Bảo và Yến cùng quyết định chung nhau xây tổ ấm.

Ngày cưới được ấn định vào ngày 28 tháng 01 năm 2002, lại trùng đúng vào ngày sinh nhật của nhà tôi. Lúc đó Bảo 35 tuổi và Yến 27. Bảo về Việt Nam làm lễ cưới bên Việt Nam, và khi bên Việt Nam vào giờ cử hành đám cưới thì qua điện thoại và skype, bên này chúng tôi cũng thắp nhang trên bàn thờ Phật và Tổ Tiên để trình là chúng tôi mới có dâu hiền. Nhờ đã làm thủ tục bảo lãnh từ trước nên Yến qua Mỹ chỉ sau vài tháng chờ đợi. Trước đó một thời gian, chúng tôi đã có cơ hội xây một căn nhà tương đối rộng rãi và vừa túi tiền. Thế là khi Yến sang thì đã có cơ ngơi đầy đủ tiện nghi.

Tôi còn nhờ tối hôm đón Yến tại phi trường Austin. Vợ chồng tôi và Bảo đứng chờ ở cửa đón. Chợt Bảo nói Yến kìa. Nhìn thấy một cô gái Việt Nam nhỏ bé, một thân một mình kéo chiếc va li bước ra, tôi chạnh lòng muốn khóc. Và khi bước qua cửa, chúng tôi ôm nhau, coi như quen biết từ thuở nào. Về đến nhà, Yến xin phép được tắm rửa, và ngay sau đó đã ra trước bàn thờ Phật và bàn thờ Tổ Tiên thắp nhang và khấn vái, xin được gia nhập vào gia đình. Nhà tôi kết Yến từ lúc đó.

Qua 2003, Yến cho chúng tôi đứa cháu nội gái đầu tiên, và đến năm 2007 chúng tôi có được đứa cháu nội trai đầu tiên. Thế là cuối cùng chúng tôi có cháu đích tôn rồi. Có vui mừng nào bằng vui mừng này không? Hai vợ chồng chúng tôi tranh nhau cưng hai cháu nội như cưng trứng mỏng. Bà nội hất ông nội qua một phòng bên để bà trông và ngủ gần hai cháu luôn, nhất là bà nội chiều cháu trai đến mức hơi quá đáng. Dù ngủ với Bà Nội, nhưng tối tối trước khi đi ngủ, cả hai cháu đều gặp Ông Nội để hôn và chúc Ông Nội ngủ ngon. Điều này đã trở thành một thóì quen không thể không có được. Thế là chúng tôi hạnh phúc rồi. Không còn đòi hỏi gì hơn được nữa. Vả lại được một cái, hai cháu rất ngoan ngoãn, vâng lời, và nhờ có học tiếng Việt do bà nội dậy nên ở nhà hoàn toàn chỉ nói viếng Việt. Hai cháu cũng lên chùa học thêm nên biết đọc và viết tiếng Việt nữa. Không biết sau này lớn lên thì ra sao. Tương lai sẽ trả lời. Hiện giờ, ngoài việc mê TV, cháu gái thì thích chơi búp bê, còn cháu trai thì mê lắp rắp Lego. Hai cháu gọi dạ bảo vâng theo đúng truyền thống người Việt Nam. Lúc ngồi ăn cơm đều mời ông bà bố mẹ ăn rồi mới cầm đũa. Mẹ Yến của hai cháu cũng tình nguyện dậy tiếng Việt trên Chùa, và mỗi mùa thuế đều khai thuế miễn phí cho các cụ già, người neo đơn tại Austin.

Có một điều rất ngộ nghĩnh là gia đình chúng tôi là Bắc Kỳ di cư 1954 và tương đối bảo thủ. Nói rặc giọng Bắc. Còn Yến thì gia đình ở Sài Gòn, Nam Kỳ rặc. Vậy mà lại hợp mới lạ chứ. Chỉ có cái khi nấu ăn, Yến hay cho đường vào, mới đầu cũng khó ăn, thế nhưng sau rồi cũng quen. Nhà tôi và Yến thường thủ thỉ nói chuyện, đôi khi cả một vài tiếng đồng hồ. Không biết nói gì mà nói lắm thế!

Thật là lạ lùng, với sự quan hệ tương đối dễ dàng giữa một người đàn bà lớn tuổi người Bắc, là mẹ chồng, qua những kinh nghiệm trong cuộc sống trải qua bao nhiêu thử thách, khó khăn gần hết một đời người, và một người dâu Nam Bộ, khôn ngoan, tinh anh, nhưng biết nghe những lời chỉ bảo và hướng dẫn của ngưòi mẹ chồng. Sự kết hợp hài hoà đó không phải dễ. Hoàn toàn không có cảnh đụng chạm giữa Bắc và Nam, giữa mẹ chồng và nàng dâu. Mọi chuyện đều êm đẹp một cách rất bình thường. Đúng nguyên tắc, đáng lẽ nhà tôi gọi Yến là “mẹ nó” theo phong tục ngoài Bắc khi mẹ chồng gọi con dâu lúc người con dâu có con, nhưng đằng này lại gọi là “con” ngọt sớt!

Theo nhận xét của chúng tôi, Yến là một cô gái nhỏ nhắn, tính tình nhu mì, hiền lành, thật thà, ăn nói nhỏ nhẹ, dễ thương theo kiểu người Nam, với tiếng “dạ” êm nhẹ không thua gì những cô gái kín cổng cao tường ngoài Huế, nhưng không kém phần sắc sảo và có phần phản ứng nhanh nhẹn, kịp thời trước các chuyện xảy ra. Không phải mèo khen mèo dài đuôi, nhưng các bạn bè của chúng tôi đều có nhận xét tương tự.

Nhà tôi hoàn toàn không nghĩ mình là mẹ chồng, và Yến không nghĩ mình là con dâu, mà cả hai đều nghĩ là mình là chị em hay bạn bè hay gì đó, vì khi nói chuyện thật là cởi mở, thật là chân thành.

Yến chịu khó nói theo giọng Bắc, tôi cũng không biết tại sao, vì đâu có cần thiết. Có lẽ chỉ vì muốn hài hoà trong gia đình. Yến cũng dậy hai con nói với những chữ Bắc thay vì chữ trong Nam, thí dụ như gọi cha mẹ bằng Bố, Mẹ thay vì Ba, Má. Đại khái như vậy. Hiện tại, hai cháu nói tiếng Việt theo giọng Bắc rất sõi.

Cũng do đó mà nhà tôi thương Yến thêm. Môt phần vì những lý do trên, một phần là vì Yến bỏ gia đình, anh chị, để một thân một mình sang đây sống trong gia đình chồng, hoàn toàn không có ai trong gia đình Yến có mặt bên Mỹ này.

Sau khi lập gia đình, trải qua một số công việc tạm thời tại các hãng xưởng điện tử, khi có hai cháu bé, hai vợ chồng Bảo Yến có được cơ duyên thi vào làm công chức liên bang, và cả hai đều được tuyển, do đó họ đã là công chức liên bang được nhiều năm rồi. Quyền lợi cũng khá, do đó hai cháu nội chúng tôi cũng được hưởng những quyền lợi đó, như về y tế chẳng hạn thì là nhất. Hai cháu đã đi học, và sáng thì Bố chúng đưa đi, chiều thì ông hoặc bà nội đón về. Kể cả khi hai cháu đi học đàn và học võ. Trong nhà có nhiều tiếng cười vui vẻ rộn ràng hơn là tiếng cằn nhằn. Ngoài ra còn cộng thêm cả tiếng đàn dương cầm và vĩ cầm. Thế là tốt rồi.

Hồi 2004, tôi phải mổ cổ, cắt bỏ một khúc xương cổ, nên cổ bị bó, không nhúc nhích được cả gần nửa tháng, chỉ ngủ ngồi. Yến là người cơm nước cho tôi, đút từng muỗng cơm cho tôi trong lúc nhà tôi đi làm. Hồi 2007, nhà tôi mổ vá van tim, phải vừa nằm vừa ngồi trên ghế bành, không được nằm duỗi dài người, sợ tim bị ép, cũng Yến chăm lo cho nhà tôi thật kỹ lưỡng cũng trong lúc tôi đi làm và đêm đến thì Bảo ngủ ngay dưới chân Mẹ để xem có cần gì không, cả tháng trời như vậy. Yến biết làm tròn đầy đủ bổn phận của một người con, mà lại có tình trong đó nữa chứ không phải chỉ bổn phận của một người con dâu không mà thôi.

Mới đây, trong khi soạn lại giấy tờ, thư từ cũ để huỷ bỏ, vì trong tủ có quá nhiều giấy tờ lưu trữ từ ngày mới qua Mỹ đến nay, tôi chợt bắt gặp một lá thư của con dâu chúng tôi, người Nam Bộ, gửi cho bà Mẹ chồng, người Bắc Kỳ. Nhà tôi sau khi đọc xong đã cất nó đi vào trong đống hồ sơ gia đình. Đọc cũng thấy ngồ ngộ, bởi vì người Nam ít viết được một bức thư với giọng điệu như vậy. Bức thư ngắn ngủi nhưng chứa đựng bao nhiêu ân tình bao la. Và có thể cũng vì cái khéo léo của Yến mà đã chinh phục được Bảo và cả mẹ chồng. Lá thư của một người con gái Nam Bộ mộc mạc, đơn giản, ngây thơ, nhẹ nhàng, nũng nịu và đầy tính cách thuyết phục đã làm trái tim Bắc Kỳ nhà tôi rung động. Riêng về phần tôi, tôi chẳng nhận được thư từ gì của Yến cả, vì là bố chồng, chỉ thỉnh thoảng có được một món nhậu ngon bá cháy. Yến nấu ăn được lắm. Do đó tôi cũng bị chinh phục luôn. Hồi chưa cưới, Yến từng nói với Bảo là đang học một khoá nấu ăn và làm đồ nhậu để khi sang Mỹ sẽ làm đồ nhậu cho Bố nhậu mệt nghỉ.


Tôi được biết, Yến là con út trong một gia đình tương đối đông con. Là Út nên được Ba Má nuông chiều hết mức. Cho đến khi Ba Má Yến qua đời thì Yến bị hụt hẫng. Thiếu thốn tình thương của Ba Má, Yến mong nhà tôi vừa coi Yến như con dâu, vừa coi như con gái. Yến thèm có được một người để có thể gọi lại tiếng Má hay tiếng Mẹ. Là Mẹ chứ không phải là mẹ chồng không mà thôi. Và lẽ tất nhiên nhà tôi chấp thuận, vì nhà cũng không có con gái. Có thêm được một người yêu thương mình không phải là chuyện dễ. Có lẽ vì vậy mà hai người hay thủ thỉ với nhau. Ngày nào đi làm về là Yến cũng xà xuống gặp nhà tôi ngay và bắt đầu nói chuyện, từ chuyện trong nhà đến chuyện ngoài đường, và cả hai đều có thú trồng cây hoa ngoài vườn hay trong chậu, tuỳ loại hoa nên dễ nói chuyện.

Hôm nay, tôi muốn ghi lại đây lá thư của người con dâu Nam Kỳ gửi cho người Mẹ chồng người Bắc kỳ để quý vị đọc, vì nó cũng nói lên tình cảm gia đình. Tình cảm giữa mẹ chồng nàng dâu. Tình cảm giữa con người với con người. Tình cảm giữa hai người xa quê hương, xa những kẻ thân ngưòi thích ruột thịt để chỉ còn sống cho nhau, vì nhau mà thôi.

Lá thư này viết vài tuần trước ngày cưới của Bảo -Yến tại Việt Nam, và Yến đem qua, trao cho Mẹ chồng. Nhà tôi xem xong sắp vào đống giấy tờ khai sinh, hôn thú của cả nhà. Tôi nghĩ nhà tôi cho là lá thư đó chỉ liên quan đến hai mẹ con nên không cần đưa cho tôi đọc. Mọi người quên bẵng đi cho đến hôm nay mới lại thấy nó. Tôi xin chép nguyên văn lá thư:

“Mẹ ơi, Mẹ à,
Khi Mẹ nhận được lá thư này thì con đã là con gái của Mẹ rồi và cũng là một đứa con dâu của gia đình họ Lê. Con đã có thể gọi Mẹ ơi, Mẹ à! Cả đời con, con chưa gọi ai bằng Mẹ cả. Con chỉ gọi Má thôi. Nhưng bây giờ và sau này mãi mãi con đã có một người Mẹ. Đã có thể danh chánh ngôn thuận chăm sóc và lo lắng cho Mẹ. Ngày cưới của anh Bảo và con cũng là ngày sinh nhật của Mẹ. Con kính chúc Mẹ luôn khỏe mạnh và còn mãi trong tình thương yêu của gia đình và con cái. Con có một bài thơ mà con rất thích của một nữ sĩ Việt Nam, con kính gửi tặng Mẹ và cũng thay con nói lên những gì con muốn nói với Mẹ.

Mẹ của Anh

Phải đâu Mẹ của riêng anh
Mẹ là mẹ của chúng mình đấy thôi
Mẹ tuy không đẻ không nuôi
Mà em ơn Mẹ suốt đờì chưa xong.
Ngày xưa má Mẹ cũng hồng
Bên Anh Mẹ thức lo từng cơn đau.
Bây giờ tóc Mẹ trắng phau
Để cho mái tóc trên đầu anh đen.
Đâu con dốc nắng, đường quen
Chợ xa gánh nặng Mẹ lên mấy lần.
Thương Anh thương cả bước chân
Giống bàn chân Mẹ tảo tần năm nao
...
Mẹ không ghét bỏ em đâu
Yêu anh em đã là dâu trong nhà.
Em xin hát tiếp lời ca
Ru anh sau nỗi sót sa nhọc nhằn
Hát tình yêu của chúng mình
Nhỏ nhoi giữa một trời xanh khôn cùng
Giữa ngàn hoa cỏ núi sông
Giữa lòng thương Mẹ mênh mông không bờ.
Chắt chiu từ những ngày xưa
Mẹ sinh Anh để bây giờ cho em*.

Kính thư,
Kiều Yến
12-01-2002”

Viết xong tại Austin, ngày 20 tháng 03 năm 2015.
Lê Hoàng Ân

(*) Tác giả bài thơ là nhà thơ nữ Xuân Quỳnh (1942-1988). Bà là vợ của nhà văn Lưu Quang Vũ. Hai vợ chồng và con trai 13 tuổi cùng mất trong một tai nạn giao thông tại Hải Dương năm 1988.