Thursday, March 30, 2017

Tiếng Guốc Ngày Xưa - Trầm Vân

Bị Chia Lá Bài Xấu, Người Mẹ Dạy Chơi Ván Bài Cuộc Đời, Và Cậu … Trở Thành Tổng Thống Mỹ.



Eisenhower là vị Tổng thống thứ 34 của Hoa Kỳ, khi còn trẻ ông thường cùng với người nhà chơi đánh bài. Một lần, sau bữa ăn vào buổi tối, ông lại cùng người nhà chơi đánh bài. Tuy nhiên lần này vận may của ông lại không tốt, lá bài mỗi lần ông bốc được đều là rất xấu. Khi mới bắt đầu ông chỉ có hơi chút kêu ca phàn nàn, nhưng sau đó, ông thực sự không thể nhẫn chịu nổi, không biết làm sao liền bộc phát cơn giận dữ của mình.

Mẹ ông ngồi bên cạnh nhìn không vừa mắt, liền nghiêm mặt nói với ông: “Nếu muốn chơi bài, con phải dùng lá bài trong tay để đánh, cho dù lá bài đó là tốt hay xấu. Tất cả sự may mắn đều không thể giành hết cho con được!”

Eisenhower nghe không lọt những lời mẹ nói, trong đầu vẫn đầy căm phẫn bất bình.
Mẹ ông thấy vậy liền ôn tồn: “Con ạ. Cuộc đời người ta cũng giống như việc đánh bài, còn người chia bài lại là ông trời. Cho dù lá bài đến tay con là xấu hay là tốt, thì con đều cần phải cầm chắc lấy chúng, cần phải đối diện. Điều con cần làm là phải giữ được sự nóng nảy trong lòng, khiến bản thân mình bình tĩnh trở lại, nghiêm chỉnh đối đãi với chúng, đánh cho tốt những quân bài có trong tay mình, cố gắng để đạt được kết quả tốt nhất. Con đối với ván bài như thế nào thì cuộc đời con cũng sẽ như vậy!”

Kể từ đó trở đi, Eisenhower luôn ghi nhớ lời dạy của mẹ và điều này đã trở thành kim chỉ nam cho cuộc sống của ông sau này. Cứ như vậy, Eisenhower đã bước từng bước trong sự nghiệp của mình, bước chân của ông ngày càng in dấu xa hơn: trở thành trung tá trong quân đội, thành chỉ huy của quân đồng minh và cuối cùng là cương vị Tổng thống của nước Mỹ.

Lá bài mà ông trời phát cho chúng ta thường có lá tốt lá xấu, cứ một mực oán trách không có điểm gì là tốt cả, cũng không có cách nào thay đổi được tình hình. Cựu Tổng thống Ấn Độ Nehru cũng đã từng nói một câu như vậy: “Cuộc sống cũng giống như chơi poker, lá bài đến tay bạn là đã được định sẵn, nhưng cách chơi nó như thế nào lại tùy thuộc vào ý chí của bạn.”

Hoàn cảnh sống của một cá nhân có lẽ nếu chỉ dựa vào cá nhân đó thì không thể thay đổi, nhưng làm thế nào để thích nghi với hoàn cảnh là điều bản thân có thể hoàn toàn tự khống chế.

Một đời người chúng ta khó tránh sẽ gặp phải rất nhiều vấn đề, gặp phải không ít thất bại, khi bạn gặp phải vấn đề, oán trời, trách người không giải quyết được vấn đề gì cả; điều chỉnh tốt thái độ đối với cuộc sống, dũng cảm đón nhận những thử thách của cuộc sống, và dùng hết sức mình để tốt từng sự việc, đấy mới là lựa chọn tốt nhất!

Hãy ghi nhớ! Lá bài là do ông trời phát cho chúng ta, chúng ta được chia như thế nào thì là như thế đó, không có lựa chọn nào khác, cũng không thể thay đổi; điều chúng ta có thể làm, điều chúng ta nên làm, đó chính là làm thế nào để tối ưu hóa việc kết hợp các lá bài có trong tay và nỗ lực nhất có thể để đánh thật tốt từng lá bài đó!

Theo Ibook.idv
Kiên Định

Mưa Chiều Tháng Ba - Đỗ Công Luận

9 Điều Người Cao Tuổi Nên Tránh



Con người khi về già, các bộ phận trong cơ thể đều lão hóa, yếu đi. Một số điều sau đây luôn ẩn chứa những hiểm họa bất ngờ mà người cao tuổi cần phải lưu tâm đề phòng.

Không nên tập luyện vào lúc sáng sớm
Ta vẫn có quan niệm cho rằng tập luyện vào buổi sáng là tốt vì không khí trong lành. Điều đó không đúng. Vì từ 4-6 giờ sáng theo quy luật của đồng hồ sinh học của người già thân nhiệt đang cao, huyết áp tăng, thận thượng tuyến tố cũng cao gấp 4 lần buổi tối, nếu vận động mạnh, chạy hoặc đi bộ nhiều gặp gió lạnh, tim dễ ngừng đập. Đã có không ít cụ đi bộ buổi sáng sớm về ra mồ hôi, tắm xong huyết áp tăng đột ngột, đứt mạch máu não, đột quỵ luôn. Tốt nhất là nên tập vào chiều tối, tuy không khí không được thanh sạch như sáng sớm nhưng an toàn hơn nhiều.

Đang ngủ không nên trở dậy vội vàng
Thần kinh người già thường chậm chạp. Lúc ngủ muốn dậy đi tiểu hoặc có ai gọi đang ở tư thế nằm mà trở dậy ngay, đi lại luôn dễ làm huyết áp tăng đột ngột, dễ dẫn đến đứt mạch máu não. Vì vậy, đang ngủ khi có việc cần dậy phải từ từ theo 3 bước, mỗi bước khoảng nửa phút. Bước 1 khi tỉnh giấc hãy nhắm mắt lại nằm thêm nửa phút. Bước 2, ngồi dậy tại giường nửa phút xoa tay, xoa chân. Bước 3, cho hai chân chạm đất hoặc chạm nền nhà nửa phút rồi mới đứng dậy đi.

Không nên ngoái đầu một cách đột ngột
Người già mạch máu thường xơ cứng, thành mạch dày hẹp và đàn hồi kém. Nếu đột nhiên quay ngoắt đầu về phía sau, mạch máu ở cổ bị chèn ép, động mạch vốn đã hẹp bị chèn ép lại càng hẹp hơn cộng thêm thần kinh giao cảm bị kích thích mạnh làm mạch máu co lại, máu lưu thông chậm làm não thiếu máu cục bộ, thiếu ôxy nên bị choáng, hoa mắt, chóng mặt, có người đã bị ngã. Vậy đang đứng hoặc đang đi có ai gọi từ phía sau, chớ có quay ngoắt đầu lại ngay mà nên quay chầm chậm. Tốt nhất là xoay cả người lại, tránh chỉ quay đầu.

Không nên đứng co một chân để mặc quần
Xương của người già thường bị xốp do thiếu canxi. Nếu không bị xốp thì xương cũng giòn. Khi mặc quần mà đứng co chân để xỏ từng chân vào ống quần dễ bị ngã do mất thăng bằng hoặc do vướng vào quần. Người cao tuổi đã ngã thì dễ gãy xương, dập xương. Khi mặc quần tốt nhất là nên ngồi trên ghế hoặc trên giường. Trong nhà tắm nếu không có chỗ ngồi thì phải dựa mông vào một bên tường để giữ thăng bằng cho khỏi ngã. Nhiều người bị ngã gãy xương ống chân, dập xương chậu vì đứng co chân mặc quần.

Không nên quá ngửa cổ về phía sau
Có lần một ông già đã về hưu cạnh nhà tôi, sức khỏe tốt, khi ăn tối xong ngồi nghỉ trên ghế tựa có lẽ do mỏi cổ nên ông đã ngửa cổ về phía sau hơi quá nên bị xỉu luôn. Khi con cháu biết thì nửa người bên phải của ông đã bị liệt, nước mũi nước dãi chảy ròng ròng và không nói được nữa, phải đưa ngay vào bệnh viện. Trường hợp này là do gần mạch máu nơi cổ có nhiều đốt xương, bình thường giữa các đốt có chất nhờn bôi trơn nhưng về già chất bôi trơn kém đi, các đốt xương trở nên sắc cạnh. Khi ngửa cổ ra phía sau quá giới hạn cho phép, phần xương sắc cạnh đó làm tổn thương đến mạch máu, hạn chế lượng máu đưa lên não gây ra thiếu máu não làm ngất xỉu. Vì vậy, người già khi ngồi ghế tựa không nên ngửa cổ quá mức về phía sau.

Không nên thắt dây lưng quá chặt
Vùng bụng quanh dây lưng là nơi gần dạ dày, ruột non, ruột già, trực tràng và hậu môn. Dây lưng mà thắt chặt quá sẽ chèn ép các mạch máu bụng, cản trở máu lưu thông, đoạn trực tràng gần hậu môn có thể dễ bị lòi ra ngoài khi đi đại tiện mà ta thường gọi là lòi dom. Dây lưng thắt chặt, dạ dày, ruột non luôn ở trạng thái chịu sức ép ảnh hưởng xấu đến tiêu hóa. Vì vậy, không nên thắt chặt dây lưng và tốt nhất là dùng dây đeo quần qua vai, tiếng Pháp gọi là Bretel (bờ rơ ten). Bình thường ở nhà chỉ nên mặc quần ngủ lồng chun không nên mặc quần âu cứ phải thắt dây lưng làm bụng luôn bị gò bó.

Khi đi đại tiện không nên rặn quá mức
Táo bón là hiện tượng thường gặp ở người già. Tâm lý khi đi đại tiện không ai muốn ở lâu trong nhà vệ sinh nên thường muốn rặng mạnh để đi cho nhanh nhưng nếu rặn quá sức, mặt mũi đỏ gay rất nguy hiểm. Các khảo nghiệm về y học đã cho biết khi rặn mạnh dễ giãn tĩnh mạch ở hậu môn gây chảy máu nhưng điều quan trọng hơn là huyết áp sẽ tăng có thể dẫn tới tai biến mạch máu não và nhồi máu cơ tim. Để đỡ phải rặn khi đi ngoài, người già cần ăn nhiều rau quả, chuối, khoai, uống nhiều nước để chống táo bón.

Không nên nói nhanh, nói nhiều
Một số nhà khoa học Mỹ phát hiện khi ta nói chuyện bình thường dù chỉ là chuyện vui nhẹ nhàng, các tế bào trong cơ thể vẫn chịu tác động và ảnh hưởng tới huyết áp. Thử nghiệm khoa học với 100 người mỗi người đọc 2 trang tài liệu với tốc độ nhanh chậm khác nhau. Kết quả cho thấy người đọc tốc độ vừa phải thì huyết áp, nhịp tim bình thường. Người đọc nhanh quá, đọc liến thoắng thì lập tức huyết áp tăng, nhịp tim tăng nhưng khi đọc thong thả trở lại, huyết áp, nhịp tim lại giảm xuống. Qua đó ta thấy người già nên nói ít, nói chậm thì có lợi cho sức khỏe. Những cụ nào bị bệnh tim mạch, bị huyết áp càng phải nói chậm, nói ít.
Không nên xúc động
Đối với người già mạch máu đã lão hóa nếu xúc động mạnh, quá giận dữ hoặc quá vui dễ bị nhồi máu cơ tim và đứt mạch máu não. Do đó, người già không nên xúc động tránh mọi sự tức giận, buồn phiền mà cần sống thanh thản, hòa nhã, vui vẻ, bỏ qua hết mọi chuyện, ảnh hưởng đến tâm lý, sức khỏe.
Có một câu nói rất hay: "Đừng để chết vì thiếu hiểu biết". Vì thật ra đã có rất nhiều người chết vì thiếu hiểu biết kể cả những người còn trẻ. Qua sự hiểu biết ít ỏi của bản thân, qua kinh nghiệm cuộc sống và qua tham khảo các tài liệu y học mới nhất của nước ngoài mong rằng với bài viết ngắn này sẽ giúp các bậc cao niên sống lâu, sống khỏe, sống vui tăng thêm nhiều tuổi thọ.

suckhoedoisong.vn 

Wednesday, March 29, 2017

Phù Du - Phong Lan

"Ảo Thuật"!








Sưu tầm

Gợi Giấc Mơ Tiên - Đỗ Công Luận

Hoa Kỳ Phải Duy Trì Thế Thượng Phong Trong Chiến Lược “Bất Đối Xứng” Chống Bắc Kinh Tại Biển Đông - Nguyễn Cao Quyền (Danlambao)


Trong năm sáu năm qua, chính sách của Hoa Kỳ và các đồng minh thân cận trên Biển Đông đã thất bại. Khi tìm cách giảm nguy cơ đối đầu với Trung Cộng ở từng giai đoạn, Hoa Kỳ và các đồng minh trên thực tế đã đầu hàng Trung Cộng một cách tiệm tiến.

Một tiền lệ xấu đã được đặt ra, và tại một phần của Thái Bình Dương Mỹ đang có nguy cơ bị mất vị trí đã có lâu nay đối với các đồng minh là vị trí đối tác an ninh khả tín.

Cũng trong khoảng thời gian ấy, Trung Cộng đã tiến hành một cách khôn khéo một loạt các động thái từ thấp đến cao, mỗi bước đều dưới cái ngưỡng có thể kích hoạt phản ứng đáp trả ̉mạnh mẽ của Hoa Kỳ, nên ngày nay Bắc Kinh đã có những thiết trí quan trọng trên 12 đảo nhân tạo ở Biển Đông và có sự hiện diện quân sự quy mô nhất trong khu vực.

Những khả năng quân sự mới của Trung Cộng tại Biển Đông

Trong số những khả năng quân sự mới của Trung Cộng hiện nay tại Biển Đông phải kể:

Các đảo trong quần đảo Hoàng Sa chiếm đoạt của Việt Nam hiện nay đã có những phi đạo dài trên 3000m, các kho chứa nhiên liệu, các thiết bị hậu cần mở rộng. Máy bay của Trung Cộng cất cánh từ đây có thể bay nhanh chóng và dễ dàng tới Bắc Úc vả tới căn cứ Guam của Mỹ. Các đảo này cũng đã được bố trí nhiều tên lửa hành trình có thể bắn vào các mục xa đến tận biển Sulu của Philippines hay Singapore tại miền Nam Malaysia.

Mấy đảo trong quần đảo Hoàng Sa sẽ là nơi phân tán và cất giấu hầu hết các tài sản của quân đội Trung Cộng nếu xung đột bùng nổ, Ngoài ra, những đá Chữ Thập (Fiery Cross Reef), đá Subi (Subi Reef), có thể so sánh với căn cứ hải quân Trân Châu Cảng. Đá Vành Khăn (Mischief Reef) có diện tích rộng hơn quận Columbia của Mỹ. Hậu quả là con đường Biển Đông đối với Bắc Kinh hiện nay đã trở thành con đường hàng hải nội bộ được vũ trang đến tận răng.

Tất cả những trang bị quân sự nói trên đã trở thành hiện thực mặc dầu Toà Trọng Tài Thường Trực La Haye, ngày 12/7/2016, đã tuyên bố là chủ quyền lịch sử mà Bắc Kinh đòi hỏi ở Biển Đông là vô căn cứ. Trước lời tuyên bố này, Trung Cộng cứ giả ngơ giả điếc như không nghe thấy và tiếp tục lạm quyền coi thường thiên hạ.

Thái độ hung hăng và ngạo mạn của Bắc Kinh đến từ các loại biện luận mang tính dọa nạt như sau: Hoa Kỳ không nên đối đầu với sự bành trướng của Trung Quốc, trừ phi các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ muốn nước Mỹ phải đối phó với một cuộc chiến tranh nguyên tử để duy trì vai trò lãnh đạo của Mỹ ở Châu Á.

Các phân tích như thế phản ánh những đánh giá quá cao và sai lầm về sức mạnh của Bắc Kinh, và đồng thời không nhận định đúng mức tầm vóc của sự hình thành chiến lược nhằm ngăn chặn cuồng vọng của Trung Quốc.

Đã đến lúc phải làm cho Bắc Kinh thức tỉnh

Lợi ích cốt lõi của khối đồng minh Mỹ-Nhật-Úc là không để cho Trung Cộng thống trị Biển Đông và cản trở tự do lưu thông hàng hải quốc tế tại vùng này. Đó là lợi ích căn bản và chủ chốt.

Lợi ích thứ hai là phải hạn chế khả năng lấn chiếm của Trung Cộng trên Biển Đông. Khả năng này tạo tiền lệ cho những hành vi bất hợp pháp và hung hăng hơn của Bắc Kinh trong thời gian trước mắt và về lâu về dài.

Lợi ích thứ ba là không cho Trung Cộng lập đi lập lại các vi phạm Công Ước LHQ về Luật Biển (UNCLOS) và làm ngơ trước phán quyết của Tòa Trọng Tài Thường Trực La Haye, nghĩa là trực tiếp thách thức luật pháp quốc tế.

Các lãnh đạo Mỹ và đồng minh cần có một chiến lược rõ ràng để chỉ đạo chiến dịch đối phó, một chiến lược buộc phải trả giá. Chiến lược này chủ yếu phải là một liên minh quân sự mạnh mẽ hơn, thuyết phục hơn tại Tây Thái Bình Dương.

Trong một thập kỷ qua, lẽ ra Mỹ và đồng minh đã phải tiến xa hơn những cái được gọi là “xoay trục” hoặc “tái cân bằng”, để chuyển sang cái được gọi là “Chương Trình Đối Tác An Ninh Khu Vực”. Mục đích chính của chương trình này là dùng ưu thế vượt trội về quân sự để răn đe các hành động phiêu lưu của Trung Cộng và củng cố lòng tin của các đối tác Châu Á và sự an tâm của Tây Phương.

Chiến lược đồng minh mang tính sáng tạo nhất là sự “bất đối xứng”. Nói khác, để chống lại Bắc Kinh, phương thức hiệu quả nhất là tập trung áp lực đủ loại vào những điểm yếu kém nhất của Trung Cộng trên mọi lãnh vực. Các biện pháp này vượt ra khỏi lãnh vực ngoại giao và quân sự khuôn mẫu. Và nó cũng chưa thể đưa tới một cuộc chiến tranh nguyên tử như Bắc Kinh đe dọa vì nếu nói về thế trận này thi Hoa Kỳ vẫn còn ở vị trí thượng phong trên Bắc Kinh nhiều lắm.

Những hậu quả tai hại nếu Hoa Kỳ và đồng minh án binh bất động

Nên nhớ rằng nếu Hoa Kỳ và các đồng minh án binh bất động để mặc cho Trung Cộng tung hoành như trong thời gian qua thì hậu quả sẽ vô cùng nghiêm trọng không những chỉ cho an ninh của Á Châu-Thái Bình Dương mà còn cho cả an ninh của thế giới.

Hậu quả nghiêm trọng thứ nhất là toàn bộ Biển Đông sẽ bị nhường lại cho Trung Cộng. Bối cảnh an ninh tại Tây Thái Bình Dương sẽ bị đảo lộn gây phức tạp cho nhiều dạng thức hoạt động của đồng minh.

Hậu quả nghiêm trọng thứ hai là luật pháp quốc tế sẽ bị coi thường. Đây là đấu hiệu cho thấy các đồng minh Tây Phương của Hoa Kỳ không chuẩn bị cho việc bào vệ luật quốc tế.

Hậu quả nghiêm trọng thứ ba là nguy cơ Trung Cộng sẽ mạnh dạn tung ra những hoạt động xâm lăng quan trọng hơn và trở thành hiếu chiến hơn trong những năm tới. Những xung đột này sẽ dữ dội hơn và khó tránh khỏi.

Hậu quả nghiêm trọng thứ tư là tất cả những sự việc này sẽ tạo ảnh hưởng xấu cho các hoạt động răn đe. Không những Bắc Kinh sẽ không sợ răn đe nữa mà cả Moscow và Bình Nhưỡng cũng sẽ nhờn mặt đối với Hoa Kỳ.

Hậu quả nghiêm trọng thứ năm là nếu Hoa Kỳ bình chân như vại thì sẽ khiến các đồng minh thân hữu tại Tây Thái Bình Dương bắt buộc phải tái cấu trúc về quốc phòng và an ninh quốc gia họ.

Cho nên cần nhắc lại rằng vấn đề an ninh ở Tây Thái Bình Dương là lợi ích cốt lõi của Hoa Kỳ và của các đồng minh thân thiết. Tổng thống Donald Trump nhất thiết phải dành ưu tiên hàng đầu cho một chiến lược đối phó hiệu quả với Bắc Kinh.

Nếu chiến tranh Trung-Mỹ xảy ra thế giới sẽ ra sao?

Nếu chiến tranh Trung-Mỹ xảy ra ở Biển Đông thì hậu quả sẽ rất là trầm trọng. Nhiều người đã nêu lên câu hỏi này vì trong thời gian gần đây họ đã thấy Trung Quốc có những hành vi quá ngông cuồng tại Biển Đông trong khi Hoa Kỳ thì cứ cắn răng chịu trận.

Để trả lời câu hỏi đó, một số chuyên gia nghiên cứu về khoa học quân sự đã đưa ra một thí du: “Chiến tranh giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc nếu xảy ra bây giờ thì có thể ví như chiến tranh giữa á thần Hy Lạp Achilles đánh nhau với nông dân được tuyển mộ từ đồng ruộng vừa bỏ cày cuốc để chuyển sang tập cầm súng”.

Họ cũng nhận định thêm: “Mỹ có thể tổn thất hàng vạn quân nhưng Trung Quốc thì sẽ tan tành ra tro. Mỹ sẽ dồn tổng lực để làm việc này với một sự quyết liệt và sức mạnh như chưa bao giờ xảy ra trong dĩ vãng”.

Mỹ có lợi thế hơn Trung Quốc nhờ vào sự ưu việt trong công nghệ quân sự và nhờ vào sự phối hợp nhuần nhuyễn trong nhiều năm kinh nghiệm chiến đấu giữa bốn lực lượng lục quân, không quân, hải quân và thủy quân lục chiến.

Mỹ sẽ thắng trong cuộc chiến (nếu có) với Trung Quốc và thắng một cách chớp nhoáng chứ không để chiến tranh kéo dài theo lối mèo vờn chuột. Mỹ sẽ dứt điểm thần tốc để ổn định khu vực sau chiến tranh. Lúc đó, không ai hình dung được Trung Quốc sẽ ra thế nào, sẽ đi về đâu và sự tổn hại sẽ quan trọng đến mức nào.

Nhiều nhà nghiên cứu khác lại còn đưa ra những nhận định chính xác hơn: “Không chừng Trung Cộng sẽ bị diệt vong. Sự biến mất một nước đông dân nhất trên địa cầu có nhiều phần trăm sẽ xảy ra. Nhân loại sẽ phải hình thành một thế giới mới vì nước Đại Hán không còn nữa”.

*
Từ ngày tổng thống Donald Trump lên nắm chính quyền thì nhịp điệu hung hãn đầy thách thức của Bắc Kinh đã giảm thiểu một cách đáng ngạc nhiên. Tập Cận Bình đã phái Dương Kiết Trì sang Mỹ với thông điệp “không xung đột - không đối đầu”. Dương Khiết Trì đã được bộ trưởng ngoại giao Mỹ tiếp đón, rồi đưa vào Toà Bạch Ốc. Tại đây, Dương Khiết Trì chỉ được nói chuyện với tổng thống Trump có năm phút. Nội dung cuộc nói chuyện cũng không được tiết lộ.

Ngoài trời thì tại Biển Đông, một cơn bão dữ dội đã phá nát mấy đảo đá nhân tạo của Bắc Kinh. Điềm gì đây? Người Á Châu hay tin vào những hiện tượng thiên nhiên mang tính thông báo trước những điều không hay, nhưng người Mỹ và người Tây Phương thì không tin nhiều lắm. Họ chỉ tin vào sức lực của họ, sau khi họ đã nghiên cứu kỹ càng cái thế “được-thua” khi phải đối phó với Trung Quốc vào lúc này.

16.03.2017


Đời - Youtube Marian Tran

Tuesday, March 28, 2017

Cần Thơ Nỗi Nhớ Đong Đưa - Trầm Vân

Một Sự Thật Đáng Tự Hào Về Người Chồng Mất Tích Trong Chiến Tranh Sau 70 Năm


Người phụ nữ đôn hậu tên là Peggy Harris, bà rất yêu thị trấn nhỏ thuộc bang Texas, nơi bà sinh ra. Tuy nhiên, rất ít người biết đằng sau nụ cười ấm áp của bà là sự che giấu nỗi buồn khổ lớn như thế nào. Mấy chục năm qua, bà luôn lo lắng ngóng chờ tin tức của chồng từ chiến trường nhưng vẫn không chút hồi âm, mãi cho tới gần đây bà mới biết sự thật.

Năm 1944, bà Peggy đã gặp một anh chàng phi công trẻ 22 tuổi tên là Billie. Hai người phát sinh tình cảm và rất nhanh cùng nhau đi đến hôn nhân. Lúc đó cuộc chiến tranh thế giới thứ II nổ ra, cuộc sống bình yên của Peggy và Billie đã bị phá vỡ, vừa mới cưới xong, chưa kịp hưởng tuần trăng mật thì đã phải chia tay.



Billie đã được phái đến chiến trường châu Âu. Thời gian đầu Billie còn thường xuyên gửi thư về cho vợ, nhưng không bao lâu, bà Peggy không còn nhận được tin tức gì về ông nữa. Bà tra tìm thông tin của chồng trên nhiều kênh thông tin khác nhau nhưng không có kết quả gì. Lúc đó bà chỉ có thể ở nhà chờ đợi trong vô vọng. Chiến tranh kết thúc, nhiều người đã nhận được thông tin của người thân từ chiến trường nhưng tin tức về Billie bặt vô âm tín.



Peggy biết rằng chồng bà có thể không bao giờ trở về nữa, nhưng bà cũng không muốn từ bỏ bất kỳ hy vọng nào. Một đêm đang ngủ, bà nằm mơ thấy Billie trở về, ông bước vào nhà và gọi lớn: “Anh đã về đây!” Bà choàng tỉnh giấc. Nhưng lúc này nhìn quanh căn phòng, chỉ có một mình cô quạnh, bà đã không cầm được nước mắt. Thời gian dần trôi, sự hy vọng ngày một mờ nhạt dần và chỉ còn lại nỗi ưu thương và tuyệt vọng.



Người thân và bạn bè cũng khích lệ bà đến khu chiến trường tìm kiếm. Dù sao thì thông tin về chồng bà đã bị cắt đứt trong nhiều năm. Trong cuộc chiến này, rất nhiều binh sĩ đã tử vong và mất tích không có tin tức gì. Bà một mực muốn biết chồng mình đã gặp phải chuyện gì, là do ông đã hy sinh hay vứt bỏ bà. Bà không thể buông xuống nỗi nghi hoặc này nên không cách nào tiếp nhận người đàn ông khác.



Trái tim bà dần dần đóng băng lại, bà Peggy không còn dùng thân phận vợ của quân nhân để tìm đến cơ quan quân đội xác minh thông tin của chồng nữa. Tuy nhiên, bà cũng một mực ở vậy cho đến hết cuộc đời mình. Người xung quanh bà vẫn tin rằng bà chưa buông được việc xác minh thông tin tức về ông Billie. 70 năm sau, một người thân của Billie đã quyết định tra ra sự thật. Ông đã liên lạc với các đơn vị có liên quan, yêu cầu truy cập vào hồ sơ của Billie.



Trong tài liệu có ghi chép rằng, Billie đã tham gia chiến tranh ngay sau khi kết hôn cùng Peggy, sáu tuần sau khi tham chiến đã hy sinh. Lúc đó ông đang lái máy bay qua vùng trời Normandy và bị bắn trúng. Máy bay đã rơi ở gần thị trấn Ventes. Trước khi máy bay rơi xuống vài phút, Billie đã cố lái máy bay chuyển hướng, tránh không để rơi xuống khu dân cư đang tụ tập. Cuối cùng, máy bay đã rơi xuống khe suối, ông đã hy sinh và không một người dân địa phương nào bị thương.



Sau khi biết được sự thật, Peggy đã vô cùng xúc động. Sau mấy chục năm chờ đợi, cuối cùng bà cũng đã nhận được thông tin, chồng bà hy sinh nơi chiến trường và trở thành anh hùng chứ không phải là bỏ rơi bà. Bà đã quyết định tới nước Pháp, đến thăm nơi chôn cất Billie. Khi tới thị trấn Ventes, bà không khỏi rơi lệ, cái tên Billie có mặt ở khắp mọi nơi, đường phố mang tên ông, hàng năm, người dân nơi đây vẫn tổ chức lễ kỷ niệm và lập bia mộ cho Billie.



Một người đàn ông 91 tuổi đã tiếp đón Peggy, ông đã chứng kiến tận mắt quá trình máy bay của Billie rơi xuống. Lúc đó ông cùng bạn vừa đi qua khe suối, nhìn thấy thi thể của Billie nên đã đưa về thôn làng để an táng. Lúc đó có rất nhiều người đang tập trung ở khu vực này, họ đều tỏ ra thương tiếc vị anh hùng. Sau này, mộ của Billie đã được chuyển đến nghĩa trang tưởng niệm ở Normandy, nhưng thị trấn Ventes vẫn giữ nguyên tấm bia mộ của ông.



Peggy không cầm được nước mắt, vừa khóc vừa nói lời cảm ơn người trong thôn đã chăm sóc mộ phần của chồng bà mấy chục năm qua. Một cựu chiến binh nói: “Giá mà có thể cứu anh ấy được thì mới thật sự tốt.” Peggy lắc đầu nói: “Mọi người đã cứu được ông ấy rồi.”



Từ đó đến nay, mỗi năm bà đều đến đây thăm mộ chồng, dân làng cũng chào đón rất nhiệt tình và coi bà như người thân.



Mời xem bộ phim ngắn ghi lại cảnh Peggy đến thị trấn Ventes.




Một câu hỏi sau 70 năm mới có lời giải đáp, bà Peggy đúng là một người phụ nữ ‘anh hùng’. Mặc dù phải mỏi mòn chờ đợi trong vô vọng nhưng bà chưa từng một lần oán thán, trách móc người chồng bao nhiêu năm bạt vô âm tín mà vẫn một lòng một dạ. Cuối cùng thì bà cũng đã nhận được câu trả lời cho mình, bà đã tìm được người chồng của mình sau biết bao năm xa cách. Ông đã hy sinh, nhưng bản thân ông như sống mãi trong lòng bà và những người dân nơi ấy như bản anh hùng ca bất tử.

San San 
daikynguyenvn.com

Quán Chiếu Bản Thân - TTB


Quán chiếu bản thân, tôi chợt  cười...
Không ngờ, mình sống tuổi  bảy mươi
Trần gian cõi tạm đời tạm gởi 
Tôi vẫn  còn đây...hạnh phúc ơi !...

Quán chiếu bản thân, cảm tạ Trời
Cho tôi Cha - Mẹ thật tuyệt vời 
Suốt đời tận tụy vì con cái 
Nhân-Đức ngàn thu để lại  đời ...

Quán chiếu  bản thân, tôi chợt  vui
Dù nay Cha - Mẹ ở xa trời 
Nhưng tôi luôn mãi hoài ghi nhớ 
"Nhân,Nghĩa, Tình thương "gắn đầu môi!...
Từ trong sâu Thẳm vang nguyện ước,
Nếu có kiếp sau...
Xin cho tôi được  làm con của Mẹ 
Và của Cha, như tôi đã được ở kiếp này
Trời xa, Cha Mẹ chứng lời 
Gương Người. ..con dõi từng ngày, từng đêm!...

Quán chiếu bản thân, tôi vui thêm...
Hạnh phúc hôm nay thật êm đềm
Tôi có bạn xưa thời cắp sách,
Tri âm, tri kỹ thỏa hàn huyên 
Tôi có trò ngoan, nghiệp lái xưa...
Dù nay tôi phải bỏ bến  đò ...
Nhưng khách sang sông còn trĩu nặng 
Tình cô lái cũ...kiếp đò đưa !

Quán chiếu bản thân, xin cám ơn 
Trò ngoan, thiên sứ  của tình thương
Hỏi thăm, chia sẻ tình ưu ái 
Trân quí. ..hành trang trạm cuối đường

Quán chiếu bản thân, thoáng  vấn vương 
Dấu yêu muôn thuở. ..mãi hoài thương
Người đã cho tôi trời hạnh phúc 
Cho đời tị nạn ngát thơm hương !
Cảm tạ tình người  dấu yêu ơi 
Nhẹ nhàng khe khẽ bước vào đời. ..
Tha hương xứ lạ...thân viễn xứ 
Bằng cả chân tình ...ôi, hiếm hoi? !
Một sớm mai hồng, bỏ cuộc chơi
Người đi không kịp nói một lời 
Chỉ hẹn  ngày mai. ..người sẽ đến
Những rồi, mai lại mãi ngày  mơi...

Quán chiếu bản thân, tôi bật cười 
 Người vui an nghĩ ...nhớ gì tôi ?!
 Mà thôi, mặc kệ... tôi đã có...
 Dĩ vãng hồng tươi phước ân đời! 
 Kiếp này xin sẽ hoài ghi khắc
Vương Quốc Bỉ, tình ai ...tuyệt, tuyệt vời!...

Quán  chiếu bản thân,vui lại vui...
Hiện tại bình an, hạnh phúc ơi
Tôi có cháu ngoan và con thảo 
Cuộc sống giản đơn rộn tiếng cười...
Mơ ước chi hơn  đời  trạm cuối 
Nhìn lên, nhìn xuống, thanh thản cười! ..

TTB

Âm Nhạc Miền Nam Và Những Ngày Xưa Thân Ái - Vũ Đông Hà (Danlambao)


Nếu ai hỏi tôi rằng sau ngày 30 tháng 4, 1975 cái gì mà cộng sản không thể "giải phóng" được; cái gì vẫn âm thầm nhưng vũ bão giải phóng ngược lại tâm hồn khô khốc của người dân miền Bắc lẫn nhiều cán binh cộng sản; cái gì vẫn miệt mài làm nhân chứng cho sự khác biệt giữa văn minh và man rợ, giữa nhân ái và bạo tàn, giữa yêu thương và thù hận; cái gì đã kết nối tâm hồn của những nạn nhân cộng sản ở cả hai miền Nam Bắc... Câu trả lời là Âm Nhạc Miền Nam.

Nếu ai hỏi tôi, ảnh hưởng lớn nhất để tôi trở thành người ngày hôm nay, biết rung động trước hình ảnh của Ngoại già lầm lũi quang gánh đổ bóng gầy dưới ánh đèn vàng, biết nhung nhớ một khe gió luồn qua hai tấm ván hở của vách tường ngày xưa nhà Mẹ, biết man mác buồn mỗi khi đến hè và trống vắng với một tiếng gà khan gáy ở sau đồi, biết tiếc nuối một mặt bàn lớp học khắc nhỏ chữ tắt tên người bạn có đôi mắt người Sơn Tây, biết ngậm ngùi trăn trở chỉ vì một tiếng rao hàng đơn độc đêm khuya... Câu trả lời là Âm Nhạc Miền Nam.

Âm Nhạc Miền Nam đã trở thành một chất keo gắn chặt cuộc đời tôi vào mảnh đất mang tên Việt Nam. Âm Nhạc Miền Nam đã làm tôi là người Việt Nam.

*
Tôi lớn lên theo những con đường đất đỏ bụi mù trời và cây reo buồn muôn thuở. Niềm say mê âm nhạc đơm mầm từ các anh lớn của Thiếu và Kha đoàn Hướng Đạo Việt Nam, trổ hoa theo những khúc hát vang vang của các anh giữa vùng trời Đạt Lý đang vào mùa cà phê hoa trắng nở: "Tôi muốn mọi người biết thương nhau. Không oán ghét không gây hận sầu. Tôi muốn đời hết nghĩa thương đau. Tôi muốn thấy tình yêu ban đầu..." Các bậc đàn anh như nhạc sĩ Lê Hựu Hà, Nguyễn Trung Cang của Phượng Hoàng đã lót đường nhân ái cho đàn em nhỏ chúng tôi chập chững trở thành người, để biết ngước mặt nhìn đời và "cười lên đi em ơi, dù nước mắt rớt trên vành môi, hãy ngước mặt nhìn đời, nhìn tha nhân ta buông tiếng cười..."

Những đêm tối, giữa ngọn đồi nhiều đại thụ và cỏ tranh, bên nhau trong ánh lửa cao nguyên chập chờn, chúng tôi cảm nhận được niềm hãnh diện Việt Nam với bước chân của cha ông và bước chân sẽ đi tới của chính mình: "Ta như giống dân đi tràn trên lò lửa hồng. Mặt lạnh như đồng cùng nhìn về một xa xăm. Da chân mồ hôi nhễ nhại cuộn vòng chân tươi. Ôm vết thương rĩ máu ta cười dưới ánh mặt trời..." Và anh Nguyễn Đức Quang, người nhạc sĩ của thị xã đèo heo hút gió đã trở thành thần tượng của chúng tôi. Có những buổi chiều buông trong Rừng Lao Xao bạt ngàn, những đứa bé chúng tôi theo anh ngậm ngùi số phận "Xương sống ta đã oằn xuống, cuộc bon chen cứ đè lên. Người vay nợ áo cơm nào, thành nợ trăm năm còn thiếu. Một ngày một kiếp là bao. Một trăm năm mấy lúc ngọt ngào. Ôi biết đến bao giờ được nói tiếng an vui thật thà." Nhưng cũng từ anh đã gieo cho chúng tôi niềm lạc quan tuổi trẻ: "Hy vọng đã vươn lên trong màn đêm bao ưu phiền. Hy vọng đã vươn lên trong lo sợ mùa chinh chiến. Hy vọng đã vươn lên trong nhục nhằn tràn nước mắt. Hy vọng đã vươn dậy như làn tên..." Và từ anh, chúng tôi hát cho nhau "Không phải là lúc ta ngồi mà đặt vấn đề nữa rồi. Mà phải cùng nhau ta làm cho tươi mới." Cô giáo Việt văn của tôi đã mắng yêu tôi - tụi em thuộc nhạc Nguyễn Đức Quang hơn thuộc thơ của Nguyễn Công Trứ!

Nguyễn Công Trứ. Đó là ngôi trường tuổi nhỏ có cây cổ thụ già, bóng mát của tuổi thơ tôi bây giờ đã chết. Tôi nhớ mãi những giờ cuối lớp tại trường, Cô Trâm cho cả lớp đồng ca những bài hát Bạch Đằng Giang, Việt Nam Việt Nam, Về Với Mẹ Cha... Đứa vỗ tay, đứa đập bàn, đứa dậm chân, chúng tôi nở buồng phổi vang vang lên: "Từ Nam Quan, Cà Mau. Từ non cao rừng sâu. Gặp nhau do non nước xây cầu. Người thanh niên Việt Nam. Quay về với xóm làng. Tiếng reo vui rộn trong lòng..." Nhìn lên lớp học lúc ấy, có những biểu ngữ thủ công nghệ mà cô dạy chúng tôi viết: Tổ quốc trên hết, Ngày nay học tập ngày sau giúp đời, Không thành công cũng thành Nhân... Nhưng đọng lại trong tôi theo năm tháng vẫn là những câu hát "Tình yêu đây là khí giới, Tình thương đem về muôn nơi, Việt Nam đây tiếng nói đi xây tình người..."

Cô giáo của tôi đã ươm mầm Lạc Hồng vào tâm hồn của chúng tôi và cứ thế chúng tôi lớn lên theo dòng suối mát, theo tiếng sóng vỗ bờ, theo tiếng gọi lịch sử của âm nhạc Việt Nam, để trở thành những công dân Việt Nam yêu nước thương nòi và hãnh diện về hành trình dựng nước, giữ nước của Tổ tiên.
Trong cái nôi nhiều âm thanh êm đềm nhưng hùng tráng ấy, trừ những ngày tết Mậu Thân khi tiếng đạn pháo đì đùng từ xa dội về thành phố, cho đến lúc chui xuống gầm giường nghe tiếng AK47 và M16 bắn xối xả trước nhà vào ngày 10 tháng 3, 1975, tuổi thơ tôi được ru hời bởi dòng nhạc trữ tình của miền Nam để làm nên Những Ngày Xưa Thân Ái của chúng tôi.

Những ngày xưa thân ái xin buộc vào tương lai 
Anh còn gì cho tôi tôi còn gì cho em 
Chỉ còn tay súng nhỏ giữa rừng sâu giết thù 
Những ngày xưa thân ái xin gởi lại cho em...

Các anh, những người anh miền Nam đã khoát áo chinh nhân lên đường đối diện với tử sinh, làm tròn lý tưởng Tổ Quốc - Danh Dự - Trách Nhiệm, đã hy sinh cuộc đời các anh và để lại sau lưng các anh những ngày xưa thân ái cho đàn em chúng tôi. Nhờ vào các anh mà chúng tôi có những năm tháng an lành giữa một đất nước chiến tranh, triền miên khói lửa.

Lần đầu tiên, chiến tranh tưởng như đứng cạnh bên mình là khi chúng tôi xếp hàng cúi đầu đưa tiễn Thầy của chúng tôi, là chồng của cô giáo Việt Văn, một đại úy sĩ quan Dù đã vị quốc vong thân. Cô tôi, mồ côi từ nhỏ, một mình quạnh quẻ, mặc áo dài màu đen, tang trắng, đứng trước mộ huyệt của người chồng còn trẻ. Cô khóc và hát tặng Thầy lần cuối bản nhạc mà Thầy yêu thích lúc còn sống - "Ta ngắt đi một cụm hoa thạch thảo... Đôi chúng ta sẽ chẳng còn nhìn nhau nữa! Trên cõi đời này, trên cõi đời này. Từ nay mãi mãi không thấy nhau..."

Và tôi say mê Mùa Thu Chết từ dạo đó. Trong những cụm hoa thạch thảo đầy lãng mạn ấy có đau thương đẫm nước mắt của Cô tôi. Có hình ảnh lá cờ vàng ba sọc đỏ phủ nắp quan tài của người Thầy Đại úy Sĩ quan Binh chủng Nhảy Dù vào mùa Hè hầm hập gió Nồm năm ấy.

*
Từ những ngày xa xăm tuổi nhỏ, những người lính VNCH là thần tượng của chúng tôi. Tôi mơ được làm một người lính Dù bởi anh là loài chim quý, là cánh chim trùng khơi vạn lý, là người ra đi từ tổ ấm để không địa danh nào thiếu dấu chân anh, và cuối cùng anh bi hùng ở lại Charlie. Giữa những đau thương chia lìa của chiến tranh, những dòng nhạc của Trần Thiện Thanh đã cho tôi biết thương yêu, kính trọng những người lính không chân dung nhưng rất gần trong lòng chúng tôi. Những"cánh dù ôm gió, một cánh dù ôm kín đời anh" cũng là những cánh dù ôm ấp lý tưởng đang thành hình trong tâm hồn tuổi nhỏ của chúng tôi.

Nhìn lại quãng thời gian binh lửa ấy, tôi nhận ra mình và các bạn cùng lứa không hề biết rõ Phạm Phú Quốc là ai, chỉ biết và say mê huyền sử của một người được "Mẹ yêu theo gương người trước chọn lời. Đặt tên cho anh, anh là Quốc. Đặt tên cho anh, anh là Nước. Đặt tên cho Người. Đặt tình yêu Nước vào nôi", chỉ ước ao một ngày chúng tôi cũng được như anh, cũng sẽ là những "Thần phong hiên ngang chẳng biết sợ gì!" Chúng tôi, nhiều đứa núi đồi, rừng rú, chưa bao giờ thấy biển nhưng thèm thuồng màu áo trắng và đại dương xanh thẳm, thuộc lòng câu hát "Tôi thức từng đêm, thơ ấu mà nghe muối pha trong lòng. Mẹ là mẹ trùng dương, gào than từ bãi trước ghềnh sau. Tuổi trời qua mau, gió biển mặn nuôi lớn khôn tôi. Nên năm hăm mốt tuổi, tôi đi vào quân đội. Mà lòng thì chưa hề yêu ai". Chúng tôi cũng không tìm đọc tiểu sử, cuộc chiến đấu bi hùng của Đại tá Nhảy Dù Nguyễn Đình Bảo, cũng không biết địa danh Charlie nằm ở đâu, nhưng Đại tá Nguyễn Đình Bảo là biểu tượng anh hùng của chúng tôi để chúng tôi thuộc lòng khúc hát "Toumorong, Dakto, Krek, Snoul. Trưa Khe Sanh gió mùa, đêm Hạ Lào thức sâu. Anh! Cũng anh vừa ở lại một mình, vừa ở lại một mình. Charlie, tên vẫn chưa quen người dân thị thành." Chúng tôi không biết "Phá" là gì, "Tam Giang" ở đâu, nhà thơ Tô Thùy Yên là ai, nhưng "Chiều trên phá Tam Giang anh chợt nhớ em, nhớ ôi niềm nhớ ôi niềm nhớ đến bất tận. Em ơi, em ơi..." đã thân thiết chiếm ngự tâm hồn để chúng tôi biết thương những người anh chiến trận đang nhớ người yêu, nhớ những người chị, cô giáo của chúng tôi ngày ngày lo âu, ngóng tin từ mặt trận xa xăm.

Trong cái nôi của những ngày xưa thân ái ấy, từ nơi khung trời đầy mộng mơ của mình chúng tôi chỉ biết đến nỗi niềm của các anh bằng những "Rừng lá xanh xanh lối mòn chạy quanh, Đời lính quen yêu gian khổ quân hành". Giữa mùa xuân pháo đỏ rộn ràng con đường tuổi thơ thì chính âm nhạc nhắc cho những đứa bé chúng tôi biết đó cũng là "ngày đầu một năm, giữa tiền đồn heo hút xa xăm, có người lính trẻ, đón mùa xuân bằng phiên gác sớm". Giữa những sum vầy bình an bên cạnh mai vàng rực rỡ, thì ở xa xăm có những người con rưng rưng nhớ đến Mẹ già và gửi lời tha thiết "bao lứa trai cùng chào xuân chiến trường, không lẽ riêng mình êm ấm, Mẹ ơi con xuân này vắng nhà..." Âm nhạc Việt Nam đã gieo vào tâm hồn chúng tôi hình ảnh rất bình thường, rất người, nhưng lòng ái quốc và sự hy sinh của thế hệ đàn anh chúng tôi - những người lính VNCH - thì ngời sáng. Và chúng tôi biết yêu thương, khâm phục, muốn noi gương các anh là cũng từ đó.

*
Sau ngày Thầy hy sinh, chúng tôi gần gũi với Cô giáo Việt Văn của mình hơn. Nhiều đêm thứ bảy, tôi và các bạn ghé nhà thăm Cô. Đó là lúc chúng tôi đến với Một thời để yêu - Một thời để chết. Chúng tôi bắt đầu chạm ngõ tình yêu với những Vũng lầy của chúng ta, Con đường tình ta đi, Bây giờ tháng mấy, Ngày xưa Hoàng Thị, Tình đầu tình cuối, Em hiền như Ma Soeur, Trên đỉnh mùa đông, Trả lại em yêu... Đó là lúc Cô đọc thơ Chiều trên Phá Tam Giang của Tô Thùy Yên cho chúng tôi nghe, giảng cho chúng tôi về tài nghệ "thần sầu" của Trần Thiện Thanh trong lời nhạc "anh chợt nhớ em, nhớ ôi niềm nhớ... ôi niềm nhớ........ đến bất tận. Em ơi... em ơi!..." khi diễn tả nỗi nhớ ngút ngàn, và sau đó chú Trần Thiện Thanh Toàn - em ruột của nhạc sĩ Nhật Trường ở Sài Gòn lên thăm Cô, vừa đàn vừa hát. Những buổi tối này, mình tôi ở lại với Cô tới khuya. Cô đọc thơ và hát nhạc phổ từ thơ của Nguyễn Tất Nhiên, chỉ cho tôi tính lãng đãng của lời nhạc Từ Công Phụng, khắc khoải của Lê Uyên Phương, mượt mà của Đoàn Chuẩn - Từ Linh, sâu lắng của Vũ Thành An... Và qua âm nhạc, Cô kể tôi nghe chuyện tình của Cô và Thầy. Hai người đến với nhau khởi đi từ bản nhạc mà Cô hát khi Cô còn là nữ sinh Đệ Nhất và Thầy là Sinh Viên Sĩ Quan Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam. Bản nhạc ấy có những dòng như sau:

"Nhưng anh bây giờ anh ở đâu 
con ễnh ương vẫn còn gọi tên anh trong mưa dầm
tên anh nghe như tiếng thở dài của lòng đất mẹ 
Dạo tháng Ba tên anh lẫn trong tiếng sấm đầu mùa mưa
nghe như tiếng gầm phẫn nộ đến từ cuối trời."

Thầy và cô tôi yêu nhau từ sau khúc hát Người Tình Không Chân Dung ấy và "người chiến sĩ đã để lại cái nón sắt trên bờ lau sậy này" cũng là định mệnh Thầy, của cuộc tình bi thương giữa một cô giáo trẻ và người lính VNCH.

Cô tôi sống một mình và qua đời vào năm 2010. Bạn cùng lớp của tôi là Phương lùn, vào một ngày cuối năm, từ Sài Gòn trở về Ban Mê Thuột, xách đàn đến trước mộ Cô và hát lại "Ta ngắt đi một cụm hoa Thạch Thảo" để thay mặt những đứa học trò thơ ấu kính tặng hương hồn của Cô. Còn tôi, năm tháng trôi qua nhưng tôi biết rõ trong dòng máu luân lưu và nhịp đập của tim mình vẫn đầy tràn những thương yêu mà Cô đã gieo vào tôi bằng Âm Nhạc Miền Nam.

*
Một buổi tối chúng tôi ngồi hát với nhau. Các bạn từ Hà Nội, Nam Định, Yên Bái, Đà Nẵng, Sài Gòn... nhưng chỉ có mình tôi là sinh ra và lớn lên trước 1975. Các bạn tôi, hay đúng ra là những người em đang cùng đồng hành trên con đường đã chọn, đã thức suốt đêm hát cho nhau nghe. Rất tự nhiên, rất bình thường: toàn là những ca khúc của miền Nam thân yêu. 

Đêm hôm ấy, cả một quãng đời của những ngày xưa thân ái trong tôi sống lại. Sống lại từ giọng hát của những người em sinh ra và lớn lên trong lòng chế độ độc tài. Các em hát cho tôi nghe về những người lính miền Nam mà các em chưa bao giờ gặp mặt "Anh sẽ ra đi nặng hành trang đó, đem dấu chân soi tuổi đời ngây thơ, đem nỗi thương yêu vào niềm thương nhớ, anh sẽ ra đi chẳng mong ngày về...". Tôi hát cho các em mình về những ngày tháng mộng mơ trước "giải phóng" của những "Con đường tuổi măng tre, nắng vàng tươi đẹp đẽ, bóng người dài trên hè, con đường tình ta đi..." Các em tâm sự về cảm nhận đối với người lính VNCH qua những dòng nhạc êm đềm, đầy tình người giữa tàn khốc của chiến tranh: "Tôi lại gặp anh, người trai nơi chiến tuyến, súng trên vai bước lê qua đường phố;  tôi lại gặp anh, giờ đây nơi quán nhỏ,  tuổi 30 mà ngỡ như trẻ thơ".. Tôi chia sẻ với các em về nỗi ngậm ngùi quá khứ: "Như phai nhạt mờ, đường xanh nho nhỏ, hôm nay tình cờ, đi lại đường xưa đường xưa. Cây xưa còn gầy, nằm phơi dáng đỏ, áo em ngày nọ, phai nhạt mây màu, âm vang thuở nào, bước nhỏ tìm nhau tìm nhau"... 

Đêm ấy, khi các bạn nói lên cảm nhận về những mượt mà, êm ả, nhân ái của Âm Nhạc Miền Nam, tôi đã tâm sự với các bạn rằng: Chỉ cần lắng nghe và hát lên những dòng nhạc ấy, các em sẽ hiểu thấu được những mất mát khủng khiếp của con người miền Nam. Những mất mát không chỉ là một cái nhà, một mảnh đất, mà là sự mất mát của cả một đời sống, một thế giới tâm hồn, một đổ vỡ không bao giờ hàn gắn lại được. Khi những mượt mà, nhân ái ấy đã bị thay thế bởi những "Bác cùng chúng cháu hành quân" và "Tiến về Sài Gòn" thì các em hiểu được tuổi thanh xuân và cuộc đời của những thế hệ miền Nam đã bị đánh cắp hay ăn cướp như thế nào.

*
Gần 42 năm trôi qua, Âm Nhạc Miền Nam vẫn như dòng suối mát trôi chảy trong tâm hồn của người dân Việt. Chảy từ đồng bằng Cửu Long, xuôi ngược lên Bắc, nhập dòng sông Hồng để tưới mát tâm hồn của mọi người dân Việt đang bị thiêu đốt bởi ngọn lửa bạo tàn cộng sản. Dòng suối trong mát ấy cũng cuốn phăng mọi tuyên truyền xảo trá của chế độ về xã hội, con người miền Nam trước 1975 cũng như về tư cách, phẩm giá, lý tưởng của những người lính VNCH và tình cảm trân quý, yêu thương của người dân miền Nam dành cho họ.

Gần 42 năm trôi qua, trong tuyệt vọng của những kẻ thật sự đã thua trận trong cuộc chiến giữa chính nghĩa và gian tà, nhà cầm quyền cộng sản đã tìm mọi cách để tiêu diệt Âm Nhạc Miền Nam. Nhưng họ không biết rằng, dòng âm nhạc đó không còn là những bản in bài hát, những CD được sao chép, bán buôn... Âm Nhạc Miền Nam đã trở thành máu huyết và hơi thở của người dân Việt, bất kể Bắc - Trung hay Nam, bất kể sinh trưởng trước hay sau 1975. Bạo tàn và ngu dốt có thể đem Âm Nhạc Miền Nam vào những danh sách cấm đoán vô tri vô giác, nhưng không bao giờ đem được Âm Nhạc Miền Nam ra khỏi con người Việt Nam.

Ai giải phóng ai? Hãy hỏi Con Đường Xưa Em Đi và đốt đuốc đi tìm xem Bác Cùng Chúng Cháu Hành Quân đang nằm trong cống rãnh nào trên những con đường Việt Nam!!!

Monday, March 27, 2017

Cõi Nhân Gian - Đỗ Công Luận

Sinh Nhật Thứ 426 Năm Cha Đẻ Chữ Quốc Ngữ: Xứ Sở Này Nợ Ông Ấy Lời Tri Ân - LS Đặng Đình Mạnh


Thái Hà (13.03.2017) - Kỷ niệm 426 năm ngày sinh Cha Alexander Rhodes, người khai sinh chữ Quốc ngữ (15/3/1591 – 2017)

Khi đọc những dòng chữ Việt ngữ này, là bạn đang chiêm ngưỡng tác phẩm của các linh mục thừa sai Dòng Tên gồm các cha Gaspar De Amaral, cha Antonio Barbosa, cha Francisco De Pina và cha Alexandre De Rhodes, tất cả họ đều là tác giả của quốc ngữ mà người Việt ta đang sử dụng hàng ngày.

Với linh mục Gaspar De Amaral, cha đã soạn cuốn từ điển Việt – Bồ. Với linh mục Antonio Barbosa, cha soạn cuốn từ điển Bồ – Việt. Với linh mục Francisco De Pina, được cho là cha đã dựa vào cách phát âm tiếng Bồ để chuyển tự ghi chép tiếng Việt khi ông vào Đàng Trong (Từ sông Gianh trở vào Nam). Nhưng các cha đều mất khá sớm, tuy vậy, cùng với một số linh mục khác trong giai đoạn tiên khởi này, các cha đã giúp đặt nền móng đầu tiên cho quốc ngữ Việt Nam.

Với linh mục Alexandre De Rhodes, thì cha đã dựa vào hai công trình từ điển nêu trên và bổ sung thêm phần La tinh để hình thành nên cuốn từ điển Việt – Bồ – La.

Thực tế, chính việc bổ sung phần La tinh của cha Alexandre De Rhodes đã trở thành đóng góp quan trọng bậc nhất giúp hình thành nên chữ viết theo lối La tinh mà sau đó nhanh chóng trở thành quốc ngữ Việt Nam.

Đánh giá về vai trò của linh mục Alexandre De Rhodes trong việc khai sinh nên quốc ngữ Việt Nam, tờ Nguyệt San MISSI do các linh mục Dòng tên người Pháp quản lý đã từng viết nhân dịp kỷ niệm 300 năm ngày sinh của ông, đại lược như sau: “Khi cho Việt Nam các mẫu tự La Tinh, cha Alexandre De Rhodes đã đưa Việt Nam đi trước đến ba thế kỷ”.

Quả vậy, khi chính thức xác định mẫu tự, bằng cách in quyển từ điển và các sách đầu tiên bằng chữ quốc ngữ tại nhà in Vatican – Roma, thì cha Alexandre De Rhodes đã giải phóng cho nước Việt Nam về chữ quốc ngữ.

Bởi lẽ trước đó, tương tự như Nhật Bản và Cao Ly (Triều Tiên), thì người Việt Nam sử dụng lối chữ viết tượng hình, biểu ý của người Tàu hoặc chữ nôm do tự sáng chế và bị nô lệ vì chữ viết này. Chỉ mới cách đây không lâu, người Cao Ly mới chế biến ra chữ viết riêng của họ, nhưng vẫn không theo cách viết La tinh nên bị hạn chế nhiều. Còn người Nhật Bản thì sau nhiều lần thử nghiệm chế biến lối chữ viết khác, nhưng cuối cùng đã phải bó tay và đành trở về với lối viết tượng hình, biểu ý của người Tàu.

Trong khi đó, chính người Tàu dưới chế độ cộng sản của Mao Trạch Đông cũng đã từng tìm cách dùng các mẫu tự La Tinh để chế biến ra chữ viết của mình, nhưng cho đến nay vẫn chưa thành công. Vậy mà dân tộc Việt Nam, nhờ công ơn của cha Alexandre De Rhodes, đã tiến bộ trước người Tàu đến hơn ba thế kỷ rưỡi (1651 – 1017 – tính từ năm in cuốn từ điển Việt – Bồ – La đến thời điểm hiện nay.

Dĩ nhiên, không phải chỉ riêng mình cha Alexandre De Rhodes khởi xướng ra chữ Quốc ngữ. Trước đó, các cha thừa sai Dòng Tên người Bồ Đào Nha ở Ma Cao đã nghĩ ra một số phát âm tiếng Việt, viết bằng các mẫu tự La Tinh rồi. Tuy nhiên, chính cha Alexandre De Rhodes là người hệ thống hóa, hoàn tất công trình làm ra chữ quốc ngữ thành công vào năm 1651, tức là năm mà cuốn tự điển Việt – Bồ – La chào đời tại nhà in Vatican – Roma.
Thế nên, chính tại nhà in Vatican ở Roma là nơi mà Việt Nam nhận được chữ viết của mình, và chính năm 1651 cũng là năm khai sinh chính thức của chữ quốc ngữ Việt Nam.

Theo đó, chữ viết theo lối La tinh ban đầu được các nhà truyền giáo đặt nền móng cho việc sử dụng trong cộng đồng Ki-tô giáo Việt Nam, đến khi được người dân Việt Nam chấp nhận và sử dụng rộng rãi trong tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội, thì mặc nhiên nó đã tự mình được nâng cấp thành chữ quốc ngữ.

Ghi nhận công nghiệp của cha Alexandre De Rhodes đối với xứ sở, năm 1941, một tấm bia kỷ niệm nhân ngày sinh nhật thứ 350 của cha đã được dựng ở gần bên bờ Hồ Gươm trước cửa đền bà Kiệu – Hà Nội. Đến năm 1957, khi Hà Nội thuộc sự quản lý của chính quyền Cộng Sản thì bia đã bị gỡ bỏ.

Chính quyền Sài Gòn cũ đặt tên ông cho một con đường tọa lạc trước mặt Dinh Độc Lập, nay là Dinh Thống Nhất, đối xứng với phía bên kia là đường Hàn Thuyên, tên danh sĩ được ghi nhận có công phát triển và phổ biến lối chữ Nôm. Sau năm 1975, chính quyền cộng sản đổi tên đường thành Thái Văn Lung và bây giờ thì đã trả lại tên cũ là Alexandre De Rhodes cho con đường này.

Về tiểu sử: Nguyên, cha Alexandre De Rhodes (Đắc Lộ) sinh ngày 15/03/1591 (hay 1593?) tại vùng Avignon, miền nam nước Pháp. Gia đình ông thuộc gốc Do Thái ở thành phố Rhodes (bán đảo Iberia), tổ tiên sang tị nạn ở vùng Avignon là đất của Giáo Hoàng. Ông gia nhập Dòng Tên tại Roma năm 1612, thời kỳ công cuộc truyền giáo cho các dân tộc đang trên đà phát triển mạnh mẽ.

Đầu năm 1625, cha Alexandre De Rhodes đến Việt Nam bắt đầu từ Hội An. Cha bắt đầu học tiếng Việt và chọn tên Việt là Đắc-Lộ. Từ đó, Việt Nam trở thành quê hương thứ hai của cha. Nhưng cuộc đời truyền giáo của cha ở đây rất gian nan, trong vòng 20 năm, cha bị trục xuất đến sáu lần. Đến năm 1645, cha bị Chúa Nguyễn vĩnh viễn trục xuất khỏi Việt Nam. Cha mất ngày 5/11/1660 ở Iran, thọ 69 tuổi.

Hiện nay, ở Việt Nam đã từng xuất hiện ý kiến phủ nhận công lao đóng góp của cha Alexandre De Rhodes trong việc khai sinh chữ quốc ngữ, một trong số họ nêu quan điểm : “Alexandre De Rhodes làm sách bằng chữ quốc ngữ là để phụng sự cho việc truyền bá đức tin Ki-tô giáo, chứ tuyệt đối không vì bất cứ một lợi ích nhỏ nhoi nào của người Đại Việt cả. Người Việt Nam đã tận dụng chữ quốc ngữ, mà một số cố đạo đã đặt ra, với sự góp sức của một số con chiên người Đại Việt, để làm lợi khí cho việc giảng đạo, thành lợi khí của chính mình để phát triển văn hóa dân tộc, để chuyển tải một cách đầy hiệu lực những tư tưởng yêu nước và những phương thức đấu tranh nhằm lật đổ ách thống trị của thực dân Pháp. Đây chẳng qua là chuyện “gậy ông đập lưng ông” mà thôi. [1]

Riêng đối với công chúng, thì:
– Lối chữ viết đã trở thành quốc ngữ của xứ sở với chín mươi triệu đồng bào cả trong và ngoài nước cùng sử dụng;
– Lối chữ viết được dùng để thể hiện những dòng lịch sử oai hùng của dân tộc từ thuở hồng hoang đến nay;
– Lối chữ viết được dùng để thể hiện lời ru “Ầu ơ …” ân cần của mẹ từ ngày sinh ra ta làm kiếp người;
– Lối chữ viết được dùng để thể hiện sự yêu thương giữa những thành viên trong gia đình, giữa những đôi tình nhân, giữa những người tri kỷ …
– Lối chữ viết được dùng thể hiện ca từ những nhạc phẩm bất tử như Bạch Đằng Giang, Hội nghị Diên Hồng, Trưng Nữ Vương, Lòng mẹ, Tình ca …
– Lối chữ viết mà dân ta có thể tự hào là riêng biệt trong khi rất nhiều quốc gia khác, kể cả nhiều cường quốc vẫn còn phải vay mượn (Úc, Phi Luật Tân, Tân Gia Ba, Ấn Độ, Gia Nã Đại, Nhật Bản, Đại Hàn …);

Thì người khai sinh của lối chữ viết ấy chắc chắn phải là ÂN NHÂN của xứ sở mình, bất kể đến quốc tịch của họ, bất kể đến tôn giáo của họ và bất kể đến động cơ của họ khi khai sinh lối chữ ấy !
Và với chế độ :
– Lối chữ viết được Ông Hồ Chí Minh dùng để viết lời Tuyên ngôn độc lập khai sinh chế độ;
– Lối chữ viết được dùng để thể hiện Hiến pháp quy định sự độc tôn chính trị của Đảng Cộng Sản;
– Lối chữ viết được dùng trong tất cả mọi sinh hoạt chính trị, hành chính, xã hội, kinh tế, giáo dục, văn hóa …
– Lối chữ viết mà hơn 700 tờ báo của chế độ đang dùng;
– Lối chữ viết mà hơn 24.000 vị tiến sĩ khoa bảng quốc gia đang dùng;
– Lối chữ viết mà hơn 400 trường Đại học, cao đẳng các loại và hàng vạn trường học các cấp đang dùng;

Nhưng lại không mấy ai trong số họ nhắc đến ngày sinh nhật của cha Alexandre De Rhodes, người có công khai sinh lối chữ viết mà nghiễm nhiên đã là quốc ngữ của xứ sở, như là một trong những ân nhân của dân tộc này thì thật là đáng thất vọng !
Tôi tin rằng, xứ sở này nợ ông ấy lời tri ân!

LS Đặng Đình Mạnh
12-3-2017
Nguồn @Đinh Hữu Thoại